Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

Võ Thị Thắng và Nguyễn Phương Uyên, bóng tối và ánh sáng

Võ Thị Thắng và Nguyễn Phương Uyên,
b
óng tối và ánh sáng

http://www.anninhthudo.vn/Uploaded/phuongha/2013_05_17/hot-gil-chong-pha-nha-nuoc.jpg

Một nữ đặc công thuộc lực lượng biệt động thành Sài Gòn được bộ máy tuyên truyền Cộng Sản đánh bóng đến mức không thể nào bóng hơn. Đó là bà Võ Thị Thắng. Nụ cười khá ăn ảnh của bà bên ngoài tòa đại hình Sài Gòn, được một phóng viên Nhật chụp ngày 27 tháng 7 năm 1968 và được Trần Quang Long đưa vào nhạc phẩm Nụ cười chiến thắng. Bắt lấy cơ hội tuyên truyền, theo chỉ thị của đảng, từ đó, không biết bao nhiêu phim, nhạc, thơ, bình luận, hồi ký, bút ký đã viết về bà Võ Thị Thắng.
Kỹ thuật nhồi sọ theo kiểu “Tăng Sâm giết người” rất đơn giản nhưng vô cùng hữu hiệu. Những thông tin có tính chỉ đạo của đảng đã theo nhiều ngã tấn công và tấn công liên tục vào ý thức vào con người. Từ sáng đến chiều, từ ban ngày qua ban đêm, từ năm tàn qua tháng tận, dần dần không chỉ các em học sinh có tâm hồn ngây thơ trong trắng yêu “nụ cười chiến thắng” của bà mà cả người lớn cũng say mê những “mẫu chuyện anh hùng” về bà Võ Thị Thắng.
Và không những đảng viên CS mà cả những người “phê bình đảng”, những “nhà phản biện” cũng không thoát ra khỏi sức hút của “nụ cười Võ Thị Thắng”. Trong phiên tòa xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ tháng 4 năm 2011, và lần nữa sau phiên tòa xử hai em Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha mới đây, “nụ cười chiến thắng” của Võ Thị Thắng lại được một số tác giả nhắc đến để ca ngợi tinh thần yêu nước dũng cảm của hai em Phương Uyên và Nguyên Kha. Khi dùng nụ cười một nữ khủng bố để so sánh với ước vọng dân tộc, nhân bản và hòa bình trong tâm hồn trong như ngọc của một nữ sinh viên, các tác giả không để ý đến những nghịch lý vô cùng căn bản trong hai mục đích sống, hai phương pháp đấu tranh và hai nhân cách đạo đức hoàn toàn trái nghịch giữa hai con người.


Võ Thị Thắng là ai ?
Bà Võ Thị Thắng, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1945 tại xã Tân Bửu, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN khóa VIII và khóa IX. Bà là con út của 10 anh em sinh ra trong một gia đình Cộng Sản hoạt động tại Long An. Từ khi còn nhỏ bà đã giúp cha mẹ đưa cơm, nuôi giấu cán bộ CS.
Sau khi từ Long An lên Sài Gòn đi học đến lớp đệ nhị, tức lớp mười một bây giờ, tại trường Gia Long. Theo tài liệu chính thức của đảng, trong thời gian tại Sai Gòn, “Thắng tham gia phong trào đấu tranh xuống đường của thanh niên sinh viên, học sinh Sài Gòn Gia Định; rồi phong trào công nhân và nhân dân lao động khu xóm, xí nghiệp nội thành; khẩn trương gây dựng cơ sở, xây dựng căn cứ chính trị nội thành, diệt ác phá kềm, ém quân, vũ khí mai phục, chuẩn bị vào đợt Mậu thân – tổng công kích khởi nghĩa năm 1968.”
Từ sau Mậu Thân, bà Võ Thị Thắng gia nhập lực lượng biệt động thành Sài Gòn và được giao nhiệm vụ ám sát ông Trần Văn Đỗ. Ông Trần Văn Đỗ chẳng phải là viên chức cao cấp, một chính khách tên tuổi gì của chính phủ VNCH mà chỉ là phường trưởng phường Phú Lâm, quận 6, Sài Gòn. Theo tài liệu đăng trên Quân Đội Nhân Dân ngày 17-09-2009
“Ngày 27-7-1968, sau khi nắm tình hình địch, chị cải trang đột nhập vào nhà tên Đỗ cùng với hai đồng chí yểm trợ vòng ngoài. Hôm đó khác thường lệ tên Đỗ đi ngủ sớm, chị tiến thẳng đến giường tên Đỗ lên đạn bắn hai lần nhưng cả hai phát súng đều không nổ. Thấy động tên Đỗ tỉnh dậy, chị bắn lần thứ ba nhưng không trúng”.
Vụ ám sát bị lộ, bà bị bắt, đưa ra tòa đại hình và bị kết án hai mươi năm tù. Sau khi hiệp định Paris ký kết, bà Võ Thị Thắng được trao trả về phía Cộng Sản tại Lộc Ninh vào tháng 4 năm 1974.
Tóm lại, dù “vận chuyển vũ khí mai phục” hay “ám sát”, nhiệm vụ chính của nữ cán bộ CS Võ Thị Thắng là giết người. Bà Thắng không giết Tây, không giết Mỹ nhưng như bằng chứng trước tòa, bà đi giết người Việt Nam.
Hoạt động của biệt động thành Sài Gòn chủ yếu là bắt cóc, ám sát, ném bom, đặt chất nổ tại các nơi công cộng. Những hoạt động đó xét theo tiêu chuẩn nào, vào thời kỳ nào và nhân danh bất cứ lý do gì đều là các hoạt động khủng bố. Yasser Arafat, chủ tịch Tổ Chức Giải Phóng Palestine (Palestine Liberation Organization), một tổ chức có liên hệ rất nhiều với các hoạt động khủng bố chống Do Thái và từng thề sẽ làm cho “cuộc sống của người dân Do Thái không thể nào chịu đựng nỗi” cuối cùng cũng thừa nhận khủng bố là một hành động xấu xa, tội lỗi.
Phương pháp khủng bố của biệt động thành Sài Gòn hoàn toàn giống như hoạt động của phong trào Tháng Chín Đen tại Jordan thập niên 1970, của các nhóm Hồi Giáo cực đoan tại Iraq sau 2003, Taliban tại Afghanistan sau 2001, của cánh cực đoan quân sự Hamas tại Palestine, của tổ chức al-Qaeda tại nhiều nơi trên thế giới hiện nay. Giống như hầu hết các tổ chức khủng bố, ngoài việc lấy mục đích biện minh cho phương tiện bất nhân, những kẻ giết người cũng đã được ca ngợi và vinh danh.
Để giết một người Mỹ các nhóm khủng bố al-Qaeda đã giết hàng trăm người dân chính nước họ như các hành động đặt đang bom diễn ra tại Iraq. Tương tự, để giết một người Mỹ hay một người lính VNCH, các biệt động thành Sài Gòn đã giết nhiều người Việt Nam vô tội trong đó có đàn bà trẻ em. Một người Việt Nam lớn tuổi nào cũng không thể quên “chiến công hiển hách” của lực lượng biệt động thành tại nhà hàng Mỹ Cảnh tối 25 tháng 6, 1965. Trong số hàng trăm người chết do hai trái mìm đặt tại nhà hàng có nhiều “kẻ thù nhân dân” còn mặc tả.
Nguyễn Phương Uyên là ai ?
Nguyễn Phương Uyên, sinh 12 tháng 10, 1992, sinh viên năm thứ 3 trường Đại học Công nghiệp thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, cư ngụ xã Hàm Trí, huyện Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận.
Khác với Võ Thị Thắng được cha mẹ nuôi dường bằng lòng “căm thù Mỹ Ngụy”, sinh viên Nguyễn Phương Uyên, dù tham gia đoàn trường của đại học nhưng bản chất là một cô bé ngoan hiền, hồn nhiên, hiếu thảo và có tấm lòng vị tha đối với mọi người. Trong hai mươi mốt năm làm người từ lúc mới sinh ra cho đến nay, cô bé mảnh mai này, ngoại trừ lúc vô tình dẫm lên, có thể chưa tự tay giết một con kiến đừng nói chi nghĩ đến chuyện giết người. Một bộ ảnh do bạn bè thu thập cho thấy một Phương Uyên sống yên vui bên cạnh gia đình. Các em vui chơi, nhảy nhóc tung tăng, cười nói hồn nhiên như một cánh bướm vàng trong khu vườn xuân tuổi trẻ. Một bạn học của em trả lời đài Á Châu Tự Do:
“Năm cấp 3, em và Uyên chơi thân với nhau. Trong lớp học, Uyên học rất chăm chỉ. Bạn ấy hiền lắm. Khi đi học, bạn bè có gì là bạn ấy hay giúp đỡ lắm. Nói chung, bạn ấy rất năng động trong những hoạt động của trường lớp và hòa đồng với bạn bè.”
Khác với Võ Thị Thắng là sản phẩm tuyên truyền, được sơn bằng những lớp son phấn giả tạo, Nguyễn Phương Uyên là một con người thật, tinh khôi như một thiên thần. Trong lúc Võ Thị Thắng đấu tranh bằng phương tiện giết người, bạo động Nguyễn Phương Uyên chọn phương pháp ôn hòa để gióng lên tiếng nói của mình. Che khuất trong đôi cánh thiên thần Phương Uyên là lòng yêu nước vô cùng trong sáng. Trong vóc dáng như sợi tơ tưởng chừng một cơn gió nhẹ cũng có thể thổi em bay ra khỏi cửa sổ là một trái tim chan chứa tình dân tộc không thể nào lay chuyển được. Em đứng trước tòa án CS nhẹ nhàng như một nhánh lau non trước cơn bão lớn, điềm tỉnh nhưng cương quyết:
“Việc tôi làm thì tôi chịu, xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn”. Và em nói tiếp “Tôi là sinh viên yêu nước, nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì những người trẻ khác sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước. Nếu một sinh viên, tuổi trẻ như tôi mà bị kết án tù vì yêu nước thì thật sự tôi không cam tâm”.

Tại sao nhiều người vẫn tin vào các “anh hùng” do đảng CS dựng nên ?
Nikolai Bukharin, lý thuyết gia Cộng Sản, chủ nhiệm báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng CS Liên Xô và người bị Stalin thanh trừng năm 1938, viết trong tác phẩm kinh điển “ABC về chủ nghĩa Cộng Sản”:

“Tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về lâu dài trở thành một phương tiện để xóa bỏ mọi tàn tích cuối cùng của tuyên truyền tư sản bắt nguồn từ chế độ cũ, và là phương tiện mạnh mẽ để tạo ra một hệ lý luận mới, một cách suy nghĩ mới, một tầm nhìn về thế giới mới.”
Với chủ trương đó, chính sách trồng người của các chế độ CS thể hiện qua hai phương pháp: giáo dục và tẩy não.
Về giáo dục, nền giáo dục Cộng Sản không đặt trên cơ sở khách quan khoa học nhưng là một hệ thống tuyên truyền phục vụ cho các mục tiêu của đảng và nhà nước CS trong mỗi thời kỳ. Về tẩy não, năm kỹ thuật căn bản được áp dụng triệt để trong phạm vi toàn xã hội cho đến từng người: cô lâp, kiểm soát, tạo sự bất an, lập đi lập lại và gây xúc động cho đối phương.
Nhận thức của con người không ở trong trạng thái tỉnh nhưng luôn luôn biến động, thay đổi và đón nhận các nguồn thông tin từ bên ngoài bao gồm xã hội, giáo dục, môi trường thiên nhiên và cả cơ thể của chính con người. Chủ động kiểm soát được nguồn thông tin đi vào ý thức con người là kiểm soát được con người. Cả năm phương pháp tẩy não được thực hiện liên tục, phối hợp chặt chẽ và tác dụng hỗ tương vào nhận thức con người cho đến khi đối tượng hoàn toàn bị đặt trong vòng kiểm soát. Các nguồn thông tin do chế độ CS cung cấp có tính hệ thống, theo từng tuổi, từng giai đoạn trưởng thành thâm nhập vào nhận thức con người, củng cố và đóng đinh trong đó. Có lần Stalin phát biểu một ngày nào đó vai trò của Bộ Công An sẽ không còn cần thiết. Ý của tên đồ tể này là khi đó người dân đã bị cơ chế hóa, một hình thức thuần hóa trong sinh vật, đến mức các luật lệ sẽ không cần phải áp đặt mà vẫn được chấp hành như một phản xạ tự nhiên.
Biết rõ tuổi trẻ là tuổi của khát vọng xanh tươi, nhiệt tình nồng cháy nhưng chưa có những tham vọng cá nhân, bộ máy tuyên truyền của các quốc gia Cộng Sản sản xuất các anh hùng mang tinh thần dâng hiến.Có một thời tác phẩm Thép đã tôi thế đấy của Nikolai Ostrovsky là tác phẩm gối đầu giường của đa số thanh niên CS khắp thế giới, trong đó có thanh niên miền Bắc. Nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm, người bị giết tại Quảng Ngãi cuối tháng 6 1970, bắt đầu với câu trích từ tác phẩm này “Cả đời ta, cả sức ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời: Sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”. Tương tự, trong nhật ký của Nguyễn Văn Thạc, tử trận tại Quảng Trị mùa hè 1972, cũng thế, đầy những trích dẫn Thép đã tôi thế đấy. Ngày 24 tháng 12 năm 1971, Nguyễn Văn Thạc viết về thần tượng Paven của anh:
Dạo ấy Paven mới 24 tuổi. Ba năm của thời 20, anh đã sống say sưa, sống gấp gáp và mạnh mẽ. Cưỡi trên lưng con ngựa cụt hai tai trong lữ đoàn Buđionni anh đã đi khắp miền đất nước. Cuộc sống của anh là một dòng mùa xuân bất tận giữa cuộc đời. Đó là cuộc sống của người Đảng viên trẻ tuổi, cuộc sống của một chiến sỹ Hồng quân. Mình thèm khát được sống như thế. Sống trọn vẹn đời mình cho Đảng, cho giai cấp.”
Trong dòng lịch sử Việt Nam bốn ngàn năm chống ngoại xâm và xây dựng đất nước, biết bao nhiêu câu nói, thơ văn hiển hách của lớp lớp anh hùng dân tộc. Có câu nói nào hay hơn, khí phách hơn câu nói của Triệu Nữ Vương “Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm cúi đầu, còng lưng để làm tì thiếp người ta”. Có cái chết nào nói lên tình yêu chung thủy, tình yêu nước đậm đà hơn cái chết của Nguyễn Thị Giang, một phụ nữ như Võ Thị Thắng, “Mờ sáng ngày 18 tháng 6 năm 1930, cô về làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường (nay thuộc Vĩnh Phúc) để lạy tạ cha mẹ chồng (ông Nguyễn Văn Hách và bà Nguyễn Thị Quỳnh), tháo chiếc đồng hồ có khắc chữ “G” tặng cho Nguyễn Văn Lâm, em trai Nguyễn Thái Học và từ giã mọi người. Trên đường đi cô ghé quán trà bên gốc cây đề, thuộc Xóm Mới, xã Đông Vệ giáp quốc lộ số 2, cách làng Thổ Tang ước chừng một cây số. Sau khi uống bát nước trà xanh, từ biệt bà chủ quán, cô đến đứng dưới gốc cây đề, mắt nhìn về hướng làng Thổ Tang và tự kết liễu đời mình bằng khẩu súng lục mà Nguyễn Thái Học tặng cô ở đền vua Hùng ngày nào. Hôm ấy là ngày 18 tháng 6 năm 1930”. 
Những câu nói anh hùng, những cái chết kiên trinh như thế, tại sao thanh niên, sinh viên miền Bắc không học, không sống, không học tập, không trích dẫn lại gối đầu giường tác phẩm của nhà văn Sô Viết Nikolai Ostrovsky từ tận xứ Ukraine ?
Chỉ vì “nền giáo dục” ngoại lai và nô dịch Việt Nam thực tế chỉ là một phiên bản tuyên truyền của Liên Xô và Trung Quốc.
Trung Quốc có “anh hùng lao động” Hướng Lôi Phong, Liên Xô có “anh hùng lao động” Alexey Stakhanov, CSVN có Kim Đồng, Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Võ Thị Thắng v.v… Tuy nhiên, theo thời gian và đà tiến của kỹ thuật thông tin, hầu hết “anh hùng” của Liên Xô, Trung Quốc và Cộng Sản Việt Nam đều lần lượt được chứng minh là hàng giả.
Chuyện “anh hùng lao động” Hướng Lôi Phong một năm sau khi bị trụ đèn đè chết trở thành anh hùng là một ví dụ rất hề. Bộ máy tuyên truyền của đảng CSTQ, ngoài việc phát hành các tuyển tập thơ, văn còn trưng bày nhiều hình ảnh của Hướng Lôi Phong đang “lao động quên mình” khi còn sống. Tuy nhiên, Susan Sontag, một nhà sản xuất phim ảnh sau khi xem xét bộ ảnh 12 tấm của Lôi Phong đã nhận xét những bức ảnh đó được chụp bằng một phẩm chất và điều kiện kỹ thuật tuyệt hảo đến mức không có một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp nào có thể có mặt bên cạnh Hướng Lôi Phong để chụp. Làm thế nào một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp có thể biết trước một anh chàng binh nhì Hướng Lôi Phong khi anh ta gần như vô danh tiểu tốt, để đi theo và ghi lại “cuộc đời anh hùng” , “một người vì mọi người” của anh ta qua một bộ ảnh chuyên nghiệp? Không quá khó để tìm câu giải đáp. Bộ ảnh chỉ là một sản phẩm tuyên truyền được sản xuất sau khi Hướng Lôi Phong chết. Bây giờ chuyện Hướng Lôi Phong là một chuyện cười nhưng đã có một thời người dân Trung Quốc tin một cách chân thành.
Ran Yunfei, một nhà hoạt động dân chủ Trung Quốc, cho The Newyork Review of Books, biết “Tất cả những gì đảng CS dạy bạn để kính phục đều là những chuyện giả dối. Hiện nay họ lại thúc đẩy học tập Hướng Lôi Phong lần nữa nhưng ai cũng biết Hướng Lôi Phong là nhân vật giả tưởng do đảng CS nặn ra. Tất cả “anh hùng” đều là giả tạo”.
Sự kiện Tôn Đức Thắng Người thủy thủ phản chiến ở Biển đen của CSVN đã bị Giáo sư Christoph Giebel trong buổi phỏng vấn dành cho BBC khẳng định:
“Trong quyển sách của tôi, tôi tin rằng ông Tôn Đức Thắng không có mặt trên bất kì con tàu nào của Pháp liên quan vụ binh biến ở Hắc Hải. Tôi tin là vào thời điểm đó, ông Tôn Đức Thắng đang ở Toulon, cảng miền nam nước Pháp.” 
Và thê thảm hơn, Lê Văn Tám là một nhân vật ảo, từ tên tuổi cho đến đầu mình và tay chân đều do bộ máy tuyên truyền CSVN nặn ra. Sự kiện này do chính Trần Huy Liệu, bộ trưởng bộ tuyên truyền CSVN thú nhận và được Phan Huy Lê, một trong nhà sử học hàng đầu của chế độ tiết lộ.
Nạn nhân của các “anh hùng” trong nhiều trường hợp lại chính là “anh hùng”. Chuyện Võ Thị Sáu hái hoa cài lên tóc là một điển hình. Theo sách vở của đảng, ngày bị xử bắn, trên đường ra pháp trường Võ Thị Sáu còn rảnh rỗi để dừng lại hái mấy cành hoa cài lên tóc của mình. Lãng mạn hơn, vài phút trước khi bị bắn, bà ta còn gỡ những cành hoa trên tóc để tặng lại cho những người tù đào huyệt lát nữa sẽ chôn mình. Câu chuyện mô tả bà Võ Thị Sáu giống như một công chúa đi dạo vườn hoa chứ không phải một tử tù sắp chết. Hãy tạm gác qua bên việc bà có thể bị tâm lý bất bình thường như nhiều người đang bàn tán mà chỉ xem xét khía cạnh pháp lý. Trên thế giới này, không phải thế kỷ trước và cũng không phải thời các quốc gia nhược tiểu bị cai trị dưới ách thực dân tàn bạo mà cả ngày nay tại các nước văn minh tiên tiến, một tử tù ra pháp trường hai tay phải bị còng và chân phải bị xích. Còng và xích không phải là vì sợ tử tù bỏ chạy nhưng đó là một phần của bản án tử hình. Giống như Hướng Lôi Phong của Trung Quốc, nhân vật Võ Thị Sáu có thể là một người thật, đảng Cộng Sản lợi dụng bà trong tuổi vị thành niên để khích động lòng dân nhưng lại tô vẽ nên một Võ Thị Sáu bịnh hoạn đến độ đáng thương.
Chúng ta đều biết, về mặt kinh tế và kỹ thuật Việt Nam phát triển chậm hơn các quốc gia khác nhiều chục năm tuy nhiên đó chưa hẳn là một mối nguy nghiêm trọng lâu dài. Mối lo lớn của đất nước là về mặt dân trí, xã hội, đạo đức và những mặt này Việt Nam còn thua xa các quốc gia tiên tiến nhiều thế kỷ.
Với óc cần cù của người Việt, chúng ta không phải quá lo lắng về một nền khoa học hiện đại, một nền kỹ thuật hiện đại nhưng điều đáng lo lắng nhất là làm thế nào để có những con người Việt Nam với những suy nghĩ đúng, có nhận thức đúng về hướng đi của đất nước hôm nay và mai sau. Phục hưng dân tộc, vì thế, phải bắt đầu ở việc phục hưng các đặc điểm đạo đức, các giá trị nhân bản, khai phóng từ chính trong mỗi người Việt Nam. Một xã hội lương thiện phải được xây dựng bằng những con người có tinh thần hướng thiện.
Một con vẹt có thể cất giọng ca thánh thót và ngay cả hát hay hơn một con chim sơn ca ngoài vườn buổi sáng nhưng không ai bảo tiếng hát của vẹt là biểu tượng cho “mùa xuân, hạnh phúc, hy vọng, may mắn, tự do, niềm vui, tuổi trẻ, tính sáng tạo và ngày mới” như khi nhắc đến chim sơn ca. Phương Uyên là tiếng hát của sơn ca trong khu vườn xuân đất nước.
Cơn mưa dài chưa dứt, cơn bão lớn chưa ngưng nhưng hy vọng vẫn còn đây trong lòng người Việt. Tổ tiên để lại cho chúng ta một gia tài vô cùng phong phú với tất cả phương tiện cần thiết để đưa đất nước Việt Nam thành một cường quốc văn minh và hiện đại. Chúng ta có tinh thần độc lập, tự chủ cao hơn bất cứ một quốc gia nào ở vùng Đông Nam Á. Chúng ta đều ôm ấp một giấc mơ Việt Nam huy hoàng, sáng lạng. Cái duy nhất mà chúng ta chưa có đó là một cơ hội. Và cơ hội sẽ không do ai ban cho, không do ai viện trợ nhưng chính người Việt Nam trong và ngoài nước, đặc biệt là các bạn trẻ, là những người đang tạo ra cơ hội cho dân tộc mình.
Phân tích chính sách tuyên truyền của chế độ CS để thấy sự tác hại của nó trong nhận thức của các tầng lớp nhân dân và cũng cho thấy việc so sánh giữa Võ Thị Thắng và Nguyễn Phương Uyên chẳng khác gì so sánh giữa giả và thật, chiến tranh và hòa bình, hận thù và nhân ái, bóng tối và ánh sáng.
Trần Trung Đạo

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Gai Gherardi

It's always fun to photograph people who have a very distinct style and have developed a signature look over the years. Every time I visit  l.a. Eyeworks I look forward to seeing designer, Gai Gherardi and her awesome matching pyjama suits. Doesn't she look smashing?!!!

Dân miền Nam 'ăn đứt' người miền Bắc

Dân miền Nam 'ăn đứt' người miền Bắc

26/05/2013

Người miền Nam sống đơn giản nên mọi thứ đều thoáng và dễ chịu. Còn đối với người miền Bắc, họ sống phức tạp nên nhiều khi trở thành lối sống giả. Cuộc sống bí bách, khí hậu khắc nghiệt cũng góp phần làm cho người miền Bắc tính tình nóng nảy, văn hóa ứng xử kém hơn người miền Nam.


LTS: Sau khi đăng tải bài viết: Nói bậy, chửi tục: Người miền Bắc ít kiềm chế hơn người miền Nam, Báo Giáo dục Việt Nam nhận được thư bày tỏ sự ủng hộ quan điểm này của độc giả Trịnh Hoàng Hiệp. Để độc giả khắp cả nước có thể tiếp tục bàn luận về vấn đề “nói bậy, chửi tục”, chúng tôi xin đăng tải nguyên văn lá thư này.

Có giai thoại kể lại rằng, nhà phê bình Hoài Thanh, tác giả của cuốn sách bất hủ “Thi nhân Việt Nam” trong thời gian sống tại miền Nam đã chẹp miệng mà nói: “Người miền Nam, ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi rối rít. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân ngoài Bắc vào”. Ngay trong cách nói này của ông cũng cho thấy rằng, văn hóa giao tiếp, ứng xử của người miền Nam… ăn đứt người miền Bắc.


Ảnh minh hoạ.



Đất nước Việt Nam chia thành nhiều vùng miền rõ rệt, có nguồn gốc tại miền Bắc. Sự phân chia này ảnh hưởng rõ ràng đến lối sống và văn hóa mỗi nơi một khác. Ngay cả trong giọng nói, ngôn ngữ giao tiếp từ Bắc vào Nam đều có sự thay đổi, đặc biệt là hai thành phố lớn Hà Nội và Sài Gòn. Gần đây, những clip được tung lên mạng về thói nói tục, chửi bậy của học sinh đã làm dư luận vô cùng phẫn nộ, bức xúc: Khi nữ sinh nói chuyện bằng chân tay, Clip hai nữ sinh hỗn chiến kinh hoàng, Choáng váng với nam sinh Thủ đô chửi tục trước cổng trường. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện học đường mà còn là câu chuyện của toàn xã hội.


Trong cách cư xử với bề trên, hai miền Nam Bắc đều biểu hiện khác nhau. Nếu người miền Bắc nói “ạ” sau mỗi câu hỏi hoặc câu trả lời thì người miền Nam thường đệm “thưa” vào trước, “dạ” vào sau. Từ thuở nhỏ, hầu hết đứa trẻ nào cũng được dạy những lễ nghĩa cơ bản như vậy nhưng theo thời gian, khi con người dần lớn lên thì từ “ạ” của người miền Bắc thường được cắt giảm. Có lẽ bởi “ạ” mang nặng sự nghiêm túc, cứng nhắc và mô phạm, không còn phù hợp trong giao tiếp. Còn người miền Nam vẫn giữ nguyên từ “dạ” hay “thưa” như một lẽ tự nhiên.


Mặc dù Hà Nội là trung tâm văn hóa nhưng tôi thấy rằng về sự lịch lãm, tinh tế thì người miền Bắc hơn người miền Nam, thế nhưng về văn hóa cư xử trong cộng đồng thì người miền Bắc lại phải học hỏi người miền Nam. Trong các lễ hội, người miền Nam ít cảnh nhốn nháo, xô đẩy hay cố tình làm hại của chung. Họ luôn có ý thức tôn trọng người khác và bảo vệ mình.


Về cách sử dụng hai từ “cảm ơn” và “xin lỗi” hai vùng miền cũng khác nhau. Người miền Bắc rất hạn chế trong cách nói hai từ này, người ta chỉ nói như một luật lệ bất thành văn khi con cái nói với bố mẹ, ông bà, người ít tuổi nói với người hơn tuổi mà không biết rằng giao tiếp với cộng đồng cũng rất quan trọng. Nếu đi ngoài đường trên đất Bắc mà bạn bị xe đụng, bị giằng kéo, xô đẩy thì bạn chỉ nhận được những cái trợn tròn mắt, rồi phóng xe qua trước mặt. Nhưng người miền Nam thì khác, họ sẵn sàng nói xin lỗi nếu sai.


Ở Sài Gòn, chuyện vào siêu thị, cửa hàng… thấy những cô nhân viên cúi gập người chào là điều hết sức bình thường. Thế nhưng ở Hà Nội, bạn sẽ xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó cúi gập người và nói lời cảm ơn – đó là chuyện hiếm thấy trên cả miền Bắc. Nếu đi trên đường mà có điện thoại, người miền Bắc có thể vừa lái xe vừa chửi tục, quát tháo ngay giữa phố để chứng tỏ mình là ai, nhưng người miền Nam thì họ sẽ dừng lại, ghé xe bên lề đường mà nói chuyện. Thanh niên miền Nam nhậu nhẹt về khuya, khi thành phố vắng người, không có cảnh sát giao thông họ vẫn dừng xe khi có đèn đỏ, nhưng miền Bắc thì khác, không cần nhìn ngó trước sau mà sẽ phóng xe đi thẳng.


Từ ngoài xã hội lại nói về câu chuyện học đường nơi mà các em bộc lộ rõ nét nhất cách ứng xử. Sau giờ tan học, nếu đứng ở một cổng trường cấp III tại miền Bắc sẽ thấy rằng, vừa bước ra khỏi cổng trường học sinh nam thì bỏ “sơ vin”, châm thuốc và bắt đầu “phun châu nhả ngọc” đến kinh hoàng, học sinh nữ thì sẵn sàng cầm dép lên đánh nhau vì những lý do hết sức vớ vẩn.


Môi trường nào cũng có những bức xúc, học sinh miền Nam có đánh nhau, nhưng mức độ man rợ thì không bằng miền Bắc. Học trò miền Nam chỉ đánh đấm nhau rồi thôi chứ ít khi kèm theo những hành vi xúc phạm như chửi bới thậm tệ, lột áo ngay giữa phố. Cứ thử xem những clip của học sinh Bắc thì biết, đánh nhau không khác gì côn đồ, dẫn đến “đối thủ” chấn thương cả về thể xác cũng như tinh thần.


Trong môi trường giáo dục, đến trang phục giữa hai miền Nam Bắc cũng khác nhau. Nữ sinh miền Nam có truyền thống mặc áo dài trong mỗi tuần còn miền Bắc thì hầu như không mặc. Thực ra, trong việc bắt học sinh mặc áo dài cũng có cái cớ của những người làm quản lý trong ngành giáo dục. Khi vận trên mình bộ áo dài, một mặt sẽ gây ra sự bất tiện khi hoạt động mạnh, mặt khác các em cũng phải ý thức mình là con gái Việt Nam, cần giữ được nét dịu dàng, dáng yêu đúng lứa tuổi. Vì vậy, nữ sinh cũng ngại ngần mỗi khi có ý định đánh nhau với bạn vì sợ hoen ố lên tà áo trắng, cũng như nhân phẩm của mình. Riêng điều này thôi cũng đã phần nào giảm thiểu được những nóng nảy nhất thời, những hành động bất thường của học sinh.

Cách xưng hô trong nhà trường và ngoài xã hội, học trò miền Nam thường xưng hô “cô”, “dì”, “chú”, “bác” với “con”, nghe rất thân mật, tình cảm như người trong gia đình. Vì thế, chả có lý do gì lại đẩy những mâu thuẫn khiến cho tình cảm bị sứt mẻ cả.


Người miền Bắc thường ăn nói rất khéo, trịnh trọng nhưng người miền Nam lại nhã nhặn và hồn hậu hơn. Trong đời sống thường nhật, người miền Nam biểu lộ tình cảm một cách chân tình, không che dấu như người miền Trung hay khách sáo như người miền Bắc. Đến nhà một gia đình miền Nam mà gặp bữa cơm thì sẽ được họ mời một cách cởi mở: “Ăn cơm chưa? Sẵn bữa ăn luôn nghen!” mặc dù đó có thể là mâm cơm tuềnh toàng. Điều đó cũng không làm cho khách phải ngại ngần. Vì thế mối quan hệ được gắn kết bằng sự cởi mở, thoải mái.

Người miền Nam sống đơn giản nên mọi thứ đều thoáng và dễ chịu. Họ không hay để ý nhau, quản lý nhau, săm soi quá sâu vào đời tư của người khác. Họ sẵn sàng bỏ qua mọi hiềm khích để khám phá và thưởng thức cuộc sống, vì thế mọi chuyện luôn tươi mới. Còn đối với người miền Bắc, họ sống phức tạp nên nhiều khi trở thành lối sống giả. Trong cách giao tiếp, có thể trước mặt người khác họ lễ phép, lịch sự nhưng ngay sau lưng họ lại chửi tục. Họ luôn gồng mình cố gắng trong khi bản thân họ lại muốn nổi loạn. Cách sống đó dễ dẫn tới tình trạng bất cần và stress tâm lý. Cuộc sống bí bách, khí hậu khắc nghiệt cũng góp phần làm cho người miền Bắc tính tình nóng nảy, văn hóa ứng xử kém hơn người miền Nam.


Phải chăng những điều tôi nói trong bài viết này ai cũng biết nhưng mà ít ai nói và ít ai viết ra?

Nguồn: Giáo Dục



Trích từ : Calitoday

Học làm người Việt Nam XHCN

Học làm người Việt Nam XHCN

image

Quê hương thì ai cũng nhớ cũng thương. Dù chùm khế ngọt có héo đi, dù cây đa cũ bên đò xưa có thay đổi, dù con sông bờ ruộng có bị lấp đi...quê hương ấy vẫn cứ sống mãi trong ký ức và tiềm thức của tôi. Nhà văn Sơn Nam đã có lý để viết: “phong sương mấy độ qua đường phố, hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”. Sau 30 năm xa cách, tôi cũng trở về Việt nam với tâm trạng ấy và ra đi cũng với tâm trạng ấy.

image
Tôi không thể nào không thương nhớ quê hương. Nhưng tôi không sợ bị kết án là vong bản để nói rằng tôi không thể nào hòa nhập trở lại vào cuộc sống ở quê hương. Sau đúng một tháng đi “xâm nhập thực tế” từ Nam chí Bắc, bằng mọi phương tiện di chuyển thượng vàng hạ cám từ máy bay đến taxi, xe đò, xe buýt, xe ôm, xe xích lô, thuyền bè, tiếp xúc với hầu hết mọi giai cấp xã hội, tôi vẫn chưa thấy mình “tốt nghiệp” từ trường học làm người Việt nam XHCN. Tôi vẫn cảm thấy lạc lõng ngay trên chính quê hương của mình.

image
Suốt một tháng sống ở quê hương, theo lời ông bà dạy, tôi đã bắt đầu lại bài học vỡ lòng là “học ăn”. Trong trường XHCN hiện nay, đây là môn khó nuốt nhứt đối với tôi. Về Việt nam để ăn cho thỏa thích là chuyện có thể hiểu được đối với nhiều người Việt hải ngoại. Ai mà chẳng thèm các món đặc sản ở quê hương. Nhưng tôi hoàn toàn thất vọng về khoản này. Hàng ăn ở Việt nam không thiếu. Thật không ngoa để nói rằng cả nước Việt nam hiện nay là một “hàng ăn”. Trên vỉa hè và ngay cả trên đường phố, dọc theo những con lộ ở thôn quê, chỗ nào cũng có tiệm cà phê và quán ăn. Đó là chưa kể những gánh hàng rong. Đồ ăn, món nhậu và thức uống được dọn ngay trước mặt mình vào bất cứ lúc nào trong ngày.

image
Đầu thập niên 80, mới đến Pháp, tôi thực sự thất vọng và cảm thấy bơ vơ trong xã hội mới: đi tìm một hàng quán là chuyện trần ai. Giá cả thì lại làm cho những người tỵ nạn chân ướt chân ráo phải dội ngửa. Đó là chưa kể ngày chúa nhựt:  phố xá đóng cửa im thin thít. Có đói thì cũng đành phải bóp bụng mà kéo lê từng bước mỏi mệt đến hằng bao cây số may ra mới tìm được một tiệm ăn bình dân.

image
Đến Ý tôi lại càng bực mình hơn: cứ từ hai giờ trưa đến bốn giờ chiều, mọi quán sá đều đóng cửa. Mặc cho du khách có réo gọi, người ta vẫn cứ tỉnh bơ ngủ trưa đã.

Ở Việt nam XHCN hiện nay thì trái lại, muốn ăn cái gì cũng có, muốn ăn giờ nào cũng được, muốn ngồi ăn ở đâu cũng chẳng ai cười. Có lần trên một chuyến taxi, tôi nêu thắc mắc với người tài xế: tại sao ở VN người ta “ăn nhậu” liên tục như thế?  Anh trả lời rằng đa số người Việt nam hiện nay sống rất hiện sinh. Anh giải thích rằng người Việt nam ăn nhậu xả láng là vì không muốn nghĩ đến ngày mai và cũng chẳng có ngày mai mà nghĩ. Kiếm được đồng nào xài đồng đó. Đó là chủ trương sống của rất nhiều người Việt nam hiện nay. Không chỉ có những cán bộ phì nộn, ăn mặc bảnh bao hay các đại gia và giai cấp nhà giàu mới mới ăn nhậu, xem ăn nhậu như thủ tục đầu tiên, người dân lao động, những kẻ ăn không ngồi rồi cũng ăn nhậu và ăn nhậu suốt ngày, suốt đêm.

image
Sau một tháng về thăm Việt nam, đứng lên bàn cân, tôi sụt ký thấy rõ vì không muốn và không dám ăn một cách “thỏa thích” như mọi người. Tôi thực sự cảm thấy ái ngại mỗi khi bước vào một nhà hàng sang trọng. Giá cả không quá cao nếu so với Úc và các nước văn minh. Nhưng trong một đất nước mà thu nhập bình quân của một người lao động phổ thông vẫn còn ở mức dưới 5 Mỹ kim một ngày thì một bữa ăn trong một nhà hàng giá đến vài chục Mỹ kim, chưa kể tiền bia rượu, thì đây hẳn là một cách tiêu xài xa xỉ chỉ dành riêng cho giới nhà giàu mới trong xã hội.

image
Tôi không thấy thoải mái để bước vào các nhà hàng sang trọng . Cơm đường cháo chợ thì ê hề. Nhưng ngặt một nỗi, vì đã lỡ học cái thói vệ sinh của các nước văn minh cho nên có thèm nhỏ rãi tôi cũng đành ăn hàm thụ. Trong những ngày đầu, bị tào tháo rượt một lần, tôi tởn tới già. Cùng lắm, muốn ăn món tủ, nhà tôi đành phải mua rau cỏ về nhà rửa sạch với thuốc rửa rau mà chúng tôi mang theo từ Úc, rồi đem ra nhà hàng ăn thay vì ăn rau của họ trước con mắt khó chịu của người xung quanh. Ngoài ra, xuất xứ của các thứ thịt cá được dọn ra trong các hàng quán cũng khiến tôi nghi ngại. Những con thú chết vì bệnh thay vì đem chôn được xẻ thịt ra bán trong chợ là chuyện có thật được chính báo chí Việt nam phanh phui. Thịt quay  treo lủng lẳng trên đường phố đầy bụi bậm và ngày này sang ngày khác là chuyện mà tôi thấy trước mắt mỗi khi xuống đường. Ngay chợ Đồng xuân, nhà tôi đã vô tình chứng kiến cảnh người ta xẻ thịt bò ngay trên nền chợ lầy lội nước.

image
Tựu trung, các hàng ăn ở Việt nam kinh doanh bằng mọi giá, bất kể các tiêu chuẩn vệ sinh và chuẩn mực đạo đức. Xét cho cùng, nếu ăn uống là thể hiện của văn hóa một đất nước, thì điều được gọi là “văn hóa ẩm thực” của Việt nam  hiện nay cũng nói lên sự dối trá và lừa gạt vốn tràn lan trong xã hội. Muốn có chỗ ăn ngon, sạch, đúng giá thì chỉ có nước nhờ người quen mách bảo.

image
Tôi thấy mình chưa thuần thục trong bài “học ăn” ở Việt nam. Sang đến chuyện “học nói” thì tôi lại càng thấy mình  “ngọng” hơn. Cả nước Việt nam không chỉ là một “hàng ăn” mà còn là một khu triển lãm các khẩu hiệu. Từ thành thị đến thôn quê, từ các đường phố sang trọng đến các con hẻm tồi tệ bẩn thỉu, ở bất cứ ngõ ngách nào, du khách cũng có thể đọc được những khẩu hiệu. Từ việc ca tụng đảng cộng sản Việt nam quang vinh đến nếp sống văn minh, xem ra người Việt nam xã hội chủ nghĩa sống bằng khẩu hiệu hơn với thực tế. Quả thực, đi đâu tôi cũng thấy “mưa sa trên mầu cờ đỏ” và bơ vơ trong rừng khẩu hiệu. Lạc lõng hơn nữa khi mở các kênh truyền hình chính của Việt nam. Cái giọng Bắc hoàn toàn khác với giọng Bắc “năm mươi tư” không thể không làm cho tôi nghe đau lỗ tai. Phải nói thật sự có một “Nước Bắc” xâm chiếm Miền Nam Việt Nam và áp đặt không chỉ ý thức hệ mà còn cả văn hóa, ngôn ngữ và giọng nói. 

image
Trước 75, trong miền Nam làm gì có chiếc xe “ô tô”, “ điện ô tô” hay “xe con” hay làm gì có chuyện “đảm bảo”. Tôi thấy rõ chuyện “thực dân mới” ấy trên chuyến bay từ Hà nội về Sài Gòn. Thông thường các cô tiếp viên của các hãng không dân dụng Á châu đều có một sắc đẹp đủ để đại diện cho đất nước của mình. Nhưng trong chuyến bay của hãng Jetstar từ Hà nội vào Sài Gòn hôm đó, tôi hoàn toàn thất vọng về cô tiếp viên trưởng. Với “nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai”,  nếu cô được chọn làm  tiếp viên trưởng của chuyến bay thì chắc chắn cô chỉ có thể là “con ông cháu cha” mà thôi. Tôi lại càng nghĩ rằng tôi không đoán sai điều đó, bởi vì khi cô mở miệng nói với hành khách bằng tiếng “Nước Bắc” thì tôi chẳng hiểu gì “sốt”. Đến khi cô “dịch” sang Anh ngữ thì tôi lại càng “điếc” và không biết cô nói tiếng nước "Lào".

image
Nói như thế không có nghĩa là tôi giỏi và nói tiếng Anh rành đến độ quên tiếng mẹ đẻ. Thật ra, vấn đề tiếng Việt của tôi ở Việt nam không phải là “nói” cho bằng là “hiểu” cái lối nói “xa lạ” hiện nay của nhiều người Việt nam. Không kể đến chuyện người ta cho vào bảo tàng viện hai tiếng “xin lỗi” và “cám ơn”, cái cách ăn nói cộc lốc, thiếu lịch sự, thiếu lễ độ, thiếu cả văn minh... của người Việt nam XHCN vừa làm cho tôi đau lỗ tai vừa làm cho tôi đau lòng. Đau lòng thực sự bởi vì cái lễ giáo và nét đẹp của cách nói năng được nhào nặn từ bao thế hệ đã hầu như hoàn toàn bị xóa bỏ. Tôi rất sợ vào chợ để mua hàng. Tôi sợ khi phải sờ đến một món hàng và hỏi một câu, mặc dù đã cố gắng  để tỏ ra lịch sự hết sức có thể. Tôi sợ là bởi vì lúc nào mình cũng có thể được đáp trả bằng một tràng câu nói như chửi vào mặt.

image
Quả thật, một tháng có lẽ chưa đủ để tôi “học nói” lại trong Việt nam XHCN hiện nay. Sau chuyện “học ăn, học nói”, tôi lướt qua  chuyện “học gói học mở” để đi thẳng vào một chuyện tối quan trọng trong những ngày sống ở Việt nam: đó là chuyện “học đi”.
Tôi còn nhớ: cách đây vài năm, nhân một cuộc họp APEC được tổ chức tại Hà nội, một nữ phóng viên Phi luật tân tháp tùng phái đoàn chính phủ Phi, đã ghi lại hai nhận xét mà cô cho là tâm đắc nhứt trong chuyến thăm Việt nam: một là con trai Việt nam không đẹp, hai là: ai muốn tự tử cứ “đi bộ” băng qua các đường phố ở VN.

image
Cả hai điều, tôi đều thấy đúng cả. Tuần cuối cùng ở Sài Gòn, không biết làm gì, tôi bắt xe buýt đi Thủ Đức, Biên Hòa. Tại đây tôi được dịp nhìn thấy làng đại học của Miền Nam Việt nam. Có cả một trường đại học quốc tế (International University) mà tôi không biết của nước nào.  Nhưng phải nói là nhận xét của cô phóng viên người Phi thực là chính xác: trong đám nam sinh viên, rường cột và tương lai của đất nước, chen chúc trên xe buýt hay đi bộ đến trường, tôi chỉ nhìn thấy những tấm thân ốm o, còm cõi, nhỏ bé và những gương mặt thiếu sức sống và sự tỏa sáng.

image
Nhưng trở lại với bài “học đi” mà tôi đã cố gắng học trong những ngày lê bước ở Việt nam. Phải nói ngay rằng người Việt nam XHCN hiện nay rất ít đi bộ. Không cần phải nhìn cách tôi ăn mặc hay nghe tôi nói chuyện mà chỉ cần thấy tôi đi bộ hay băng qua đường là biết rõ tôi không phải là người Việt nam XHCN. Ở Việt nam, cứ bước ra khỏi nhà thì hầu như ai cũng cỡi xe gắn máy hay ít nhứt trèo lên xe ôm. Tôi không biết mình có quá chủ quan không khi nói rằng có lẽ không nơi nào trên thế giới có nhiều xe gắn máy cho bằng Việt nam, không có nơi nào trên thế giới bị ô nhiễm cho bằng các đường phố ở Việt nam và dĩ nhiên cũng không có nơi nào trên thế giới “nguy hiểm” cho khách bộ hành cho bằng VN. Quả thật, nếu muốn tự tử một cách dễ dàng, chẳng cần phải nhảy cầu, trầm mình xuống sông, rơi từ cao ốc, uống thuốc ngủ hay thắt cổ: chỉ cần hiên ngang băng qua đường ở VN cũng đủ để đi thẳng vào thế giới khác ngay.

image
Ở Việt nam luật đi đường nào cũng có, nhưng chẳng ai tuân giữ và khách bộ hành là hạng người rẻ nhứt trong xã hội. Ở Việt nam, công an giao thông đứng đầy đường, nhưng không phải để hướng dẫn về giao thông mà chỉ để được người lái xe “hối lộ” hay “mãi lộ” theo đúng nghĩa. Hôm giỗ cụ Nguyễn Trung Trực, bị kẹt trong một rừng người hỗn loạn thiếu điều đạp lên nhau tại Rạch giá, tôi không sao tìm thấy bóng một cái “áo vàng”.

image
Tôi vẫn nhớ mãi chuyến đi từ Vũng Tầu ra Nha Trang. Tài xế của chuyến xe, như anh tự giới thiệu, một người Thanh Hóa đã từng là công an. Nói chung, những tài xế người “Nước Bắc” có lối lái xe phải nói là “mất dạy” và lối nói năng cũng “mất dạy” hơn tài xế Miền Nam. Suốt chuyến đi, vì ngồi sau lưng anh, tai tôi bị tra tấn vì những câu văng tục liên hồi của anh. Nhưng được bộ nhớ của tôi ghi nhận kỹ nhứt là lúc anh trả lời cho một hành khách muốn xuống trước đồn công an gần một cổng trường tiểu học. Anh nói: “Làm gì có đồn công an gần một trường học. Chẳng có thằng ngu nào lại đi xây một trường học bên cạnh một đồn công an, bởi vì làm như thế thì trẻ con sẽ phải làm chó trước khi kịp “học làm người”.

image
Tôi đã học được rất nhiều bài học trong một tháng đi “thực tế” ở Việt nam. Nhưng bài “học đi bộ” thì tôi đành bỏ cuộc. Mỗi lần băng qua đường mà còn lành lặn, tôi xem như một phép lạ. Theo tôi, lối giao thông ở Việt nam thể hiện đúng cách sống của người Việt nam XHCN hiện nay: ở đâu người ta cũng có thể luồn lách và tránh né miễn là được việc và dĩ nhiên được việc cho bản thân mình trước đã. Người khác có sống chết ra sao cũng mặc kệ.

image
Về thăm lại quê hương tôi thấy buồn nhiều hơn vui. Phải nhìn nhận, sau 30 năm “xây dựng” xã hội chủ nghĩa, có một số dấu hiệu của phát triển: nhiều cao ốc hơn, nhiều đường sá hơn, cuộc sống vật chất và tiện nghi có khá hơn. Nhưng thật đáng buồn cho một đất nước khi sự phát triển hỗn loạn đã bóp nghẹt và chà đạp những giá trị tinh thần và luân lý. Nói như ai đó, phần “con” trong con-người Việt nam XHCN đã phát triển hơn, nhưng phần “người” thì lại ngày càng nhỏ lại.

image

Nghĩ như thế mà buồn cho quê hương!



Chu Thập

AI ĐÃ CHỈ ĐẠO BẮT TRƯƠNG DUY NHẤT ?

AI ĐÃ CHỈ ĐẠO BẮT TRƯƠNG DUY NHẤT ?
Như trên mạng đã phân tích, việc bắt Trương Duy Nhất vào thời điểm này gây bất ngờ với giới phân tích. Thứ nhất là vụ bắt xảy ra ngay trước thời điểm lấy phiếu tín nhiệm Quốc hội. Thứ hai là đối tượng bị bắt là Trương Duy Nhất chứ không phải là các blogger quá khích khác như Phạm Viết Đào, Nguyễn Hữu Vinh, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Xuân Diện… Chính vì vậy đây là một vụ bắt “rất lạ”, việc bắt khám xét và di lý ra Hà Nội chỉ diễn ra trong vài giờ đồng hồ và ngay lập tức sau đó truyền thông đồng loạt lên tiếng cho thấy đây là một vụ bắt được chuẩn bị rất kỹ và rất quyết tâm.

Vậy ai đã chỉ đạo bắt Trương Duy Nhất?.
Chắc chắn không phải là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nếu ông Dũng muốn bắt thì đã làm từ lâu do Trương Duy Nhất từ nhiều năm nay đã liên tục viết bài tấn công, bôi nhọ cá nhân ông. Mặt khác, nếu ông Dũng chỉ đạo bắt thì lần này sẽ bắt đồng loạt nhiều người chứ không chỉ riêng gì Nhất.

Theo nguồn tin chưa kiểm chứng của Tư Sang nham hiểm, lần này chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo bắt Trương Duy Nhất, dĩ nhiên với sự đồng tình của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Như đã phân tích trong bài "Hệ thống chuyên chính của nhà nước Việt Nam đã chết lâm sàng", trước đây Trương Duy Nhất nằm trong nhóm các blogger được Trương Tấn Sang bảo kê và sử dụng để tấn công Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Từ sau HNTW6 và gần đây là HNTW7, Trương Duy Nhất bất mãn, trở nên nguy hiểm và mất kiểm soát viết các bài tấn công ngược: kêu gọi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từ chức, chê bà Phó Doan là người “không biết xấu hổ”, chê Trương Tấn Sang “hèn hạ” khi không dám nêu tên đồng chí X thậm chí gần đây còn chửi thẳng ông Sang là kẻ “nói nhiều làm ít”.

.
Những hành động này của Nhất trở nên không thể chấp nhận được đối với Tổng bí Thư và Chủ tịch nước nên một lệnh chỉ đạo miệng trực tiếp từ Tổng bí thư, Chủ tịch nước đã giao cho A87 (nơi đã 3 lần gọi Nhất lên nhắc nhở) phải khẩn cấp bắt và vô hiệu hoá Trương Duy Nhất trước thời điểm bỏ phiếu tín nhiệm Quốc hội đã được thực hiện.

Tư Sang nham hiểm dự báo, Điều 258 chỉ là sự khởi đầu, là cái cớ để bắt Trương Duy Nhất, nếu Nhất không ngoan ngoãn hợp tác và chấm dứt chỉ trích Tổng bí thư, Chủ tịch nước, nhiều Điều khác trong Bộ Luật Hình sự đang chờ đợi Trương Duy Nhất.

(TSNH)

-----------------------------------------------------------------------------------------

Nóng: Rộ tin đồn An ninh Điều tra sẽ tiến hành bắt ABS

Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ hai, ngày 27 tháng năm năm 2013

Sáng nay thứ 2 đầu tuần, ở các quán nước, quán cafe khu vực Hàng Hành, Triệu Việt Vương..., đặc biệt là khu vực công an TP. Hà nội 87 Trần Hưng Đạo người ta thầm thì bảo nhau sau blogger Trương Duy Nhất đệ tử của ông Nguyễn Bá Thanh sẽ là ABS. Một số đối tượng chống đ/c X sẽ bị thanh trừng nhằm mục đích cắt tiết gà dọa khỉ.
Được biết ABS tức ông Nguyễn Hữu Vinh, một trung tá an ninh xin ra khỏi ngành để lập công ty thám tử tư và là người chịu trách nhiệm về trang blog ABS. Một blog chống đảng và nhà nước một cách tích cực, đây là một mắt xích trong vụ án quan trọng. Điều này đã gây tranh cãi trong lãnh đạo đảng, nhất là khi người ta biết người bảo kê cho ABS là Chủ tịch Trương Tấn Sang.
Dư luận cho rằng đây là khởi đầu của phe đ/c X sau khi giành được thế thượng phong trong HNTW 7 vừa kết thúc ở Hà nội.

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và đưa tin về việc này.

Minh Hùng


(TTHN)
----------------------------------------------------------------------------------------------------------


THỬ PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN TRƯƠNG DUY NHẤT BỊ BẮT





Tôi ít khi viết về những cá nhân. Vì viết khen thì cũng không xong, mà viết chê thì lại hóa ra mình chẳng ra chi, vì chuyện bếp núc của một cá nhân. Nhưng trong câu chuyện của cựu nhà báo, blogger Trương Duy Nhất bị bắt, nên phải viết để phân tích cho rõ tường tận mọi việc, để đúng tiêu chí của tôi đề ra ở blog này là, chia sẻ kiến thức đến mọi người. Nên trong bài viết này có gì mà mọi người không đồng ý thì hãy bàn luận thật rốt ráo, để tránh những việc đáng tiếc như trường hợp của Nhất.

Tiếc cho Trương Duy Nhất thì có nhiều cái để tiếc. Cái tiếc thứ nhất là tuổi đang chín muồi, sung sức và có chí khí để góp phần cho xã hội tốt nhất của một đời người, nhưng gãy gánh giữa đường.

Cái tiếc thứ hai là, cách viết của Nhất ngắn gọn mà đủ ý, nhưng lại bỏ chiến trường báo chí để viết blog. Dẫu sao, ở nước Việt ngày nay, quyền lực thứ tư vẫn còn là độc quyền của đảng cầm quyền. Ở trong chiến trường ấy, nếu có trí, có dũng, có mưu, thì bút pháp sẽ có thần để nói lên những gì dân thấp cổ bé miệng không nói được, hơn là bỏ chiến trường để ra đối đầu với một sức mạnh độc quyền.

Cái tiếc thứ ba đối với Nhất là, đã ra khỏi chiến trường báo chí, thì sao lại còn nặng lòng phe phái và chính trị, chính em để rồi có những bài viết xưng tụng chính khách đấu nhau như bài phỏng vấn trên BBC: Tại sao kỳ vọng vào ông Nguyễn Bá Thanh?

Nhưng chỉ nếu chỉ có một loạt bài Nhất cho người ta thấy anh đang đứng về ông trưởng ban nội chính trung ương đảng, thì không ai làm Nhất phải bị bắt khẩn cấp như báo Tuổi Trẻ đưa tin.

Đằng này, Nhất lại viết trên blog của mình 2 bài rất nặng ký mà theo tôi nó là giọt nước làm tràn ly để Nhất phải bị bắt theo điều 258 thuộc bộ luật hình sự quy định, đó là bài Tổng Bí Thư và Thủ Tướng nên ra đi ngày 24/4/2013, và bài Hai tân ủy viên Bộ chính trị vào ngày 04/5/2013.

Chỉ cần đọc, nhìn nhận sự vật khách quan trong 3 bài viết này cho thấy rằng, Nhất đang nằm trong một phe phái chính trị đang đấu đá nhau giữa nghị trường đóng kín ở Việt Nam hiện nay. Trong cuộc chiến tranh, chỉ có chiến sĩ và nhân dân xung trận, các chính khách ngồi trên bàn hội nghị để hưởng oản khi trở thành bên thắng cuộc, hoặc xách gói ra đi nếu trở thành bên thua cuộc. Nhất là những chiến sĩ đã chọn nhầm cửa đặt cược cho ván cờ chính trị, thì phải lãnh đủ.

Nhất không là vật tế thần để nhằm mấy cái đích rất tiện lợi thì chỉ có các chính khách thiểu năng trí tuệ. Còn đối với các chính khách lõi đời của Việt Nam hiện tại thì bắt nhất tiện cả đôi đường. Thứ nhất là răn đe toàn bộ hệ thống thông tin ngoài luồng hệ thống thông tin của đảng cầm quyền. Thứ hai là trừ hậu họa một mầm móng đang chỉ trích, mà lại là chỉ trích đích danh từng nhà quản trị đất nước về những sai trái, mà lại không có chứng cứ thuyết phục.

Trong một thể chế chính trị kinh tế xã hội như ở Việt Nam hiện nay, như tôi đã viết trong bài Ngây thơ và không tưởng, là:

Tôi thì tôi nhìn sự việc dưới góc nhìn khoa học xã hội. Nhà nước Việt là nhà nước điều hành kinh tế chính trị bằng, nghị quyết, nghị định, và quy định do ban nghiên cứu trung ương soạn thảo. Sau đó, các ủy viên trung ương họp để sửa chữa, rồi trình cho quốc hội xem xét thông qua. Tất cả đều do các đảng viên cao cấp của đảng cầm quyền làm việc này. Nên việc điều hành đất nước là việc của tập thể, mà hay nghe nói là "sở hữu toàn dân" kể cả trong điều hành đất nước. Vì thế, trách nhiệm không của riêng ai, và trách nhiệm cá nhân lại càng không tưởng. Và một cá nhân ông ủy viên kia không thể bẻ nạn chống Trời.
Thứ nữa, cái tư tưởng 2 phàm là của Mao chủ tịch, là chiến lược xuyên suốt trong sự nghiệp đoàn kết trong đảng cầm quyền. Hai cái phàm là này tôi đã từng viết trên blog này. Nó rất đơn giản, nhưng vô cùng chặt chẽ và đúng cho một hình thái chính trị kiểu nửa phong kiến, nửa quân phiệt. Một là, Mao và đảng nói là đúng. Hai là, cán bộ của đảng phải có tỳ vết. Tỳ vết là cái để cán bộ luôn phải biết giữ gìn sự đoàn kết và trung thành tuyệt đối với đảng cầm quyền. Ai đi ra khỏi cái đường ray định hướng, chiến lược sẽ bị cái phàm là thứ hai nghiền nát.

Trong khi đó, Nhất lại đi kết tội cho từng cá nhân và đi bênh vực cho một cá nhân khác. Thế có tiếc cho cách nhìn khác, lạ của Nhất không, nếu không nói là ngắn theo kiểu cái dũng của con nhà võ, hơn là một nhà văn quân sư tầm cỡ?

Là trí thức nước Việt, ở trong thời buổi nhiễu nhương này, tốt nhất là, không nên đứng về phe phái nào, mà nên nói lên những cái sai, cái đúng, vạch ra con đường đi của tổ quốc và dân tộc. Đó là cách của người trí thức chân chính bao đời của nhân loại.

Con đường sự nghiệp của Nhất xem như chấm dứt kể từ đây. Nhất chỉ còn 2 con đường để chọn. Một là thỏa hiệp để ra khỏi án tù, và hai là chịu mức án nặng nhất theo điều luật 258 của bộ luật hình sự của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là, từ 2 đến 7 năm ngồi bóc lịch. Vì với nhân cách của Nhất, theo như tôi đã được biết qua đọc những gì Nhất viết, không có chuyện lững lờ hay chịu tội để được giảm án.

Viết cho Nhất cũng là viết cho tôi, cho cả dân tộc này. Nên tôi xin cầu chúc cho Nhất, cho cả tôi và cả dân tộc này sức khỏe, hanh thông và nhiều phước lành.

( Bs Hồ Hải )


Asia Clinic, 13h08' ngày thứ Hai, 27/5/2013

TC câm mồm khi bị Nga đánh chìm tàu.

TC câm mồm khi bị Nga đánh chìm tàu.


Jane | May 27, 2013 12:24 pm

Quan trọng hơn cả, Nga biết bí mật về một nhân vật đại ác trong chính quyền Trung Cộng. Theo như những gì được tiết lộ trong cuốn “Câu chuyện có thật về Giang Trạch Dân”, cựu lãnh đạo của chế độ Trung Cộng đã từng gia nhập KGB vào năm 1955 trong khi ông ta còn là một sinh viên ở Nga. Đây là điều mà Giang không muốn mọi người biết và để giữ bí mật này, ông ta đã ký hiệp ước nhượng 395 triệu mẫu đất [1 mẫu Anh bằng khoảng 0.4 ha] của Trung Quốc cho Nga. Chừng nào mà Giang còn sống, Bắc Kinh vẫn phải kiềm chế và cam tâm chiu nhục khi nó quan hệ với nước Nga
(Có sự nhầm lẫn về con số này không trong lúc gõ bài ? 395 triệu mẫu không phải là một con số nhỏ) .
Bắc Kinh câm mồm khi bị Nga đánh chìm tàu.

Tác giả: Lý Thiên Tiếu

Mới đây một tàu chiến của Nga đã đánh đắm một tàu chở hàng của Trung Quốc, tàu New Star, ở ngay phía ngoài khơi cảng Nakhodka. Bảy thành viên trong thủy thủ đoàn đã bị chết trong tai nạn này. Tuy nhiên, thái độ của hai bên thể hiện một sự tương phản sâu sắc.

Theo truyền thông đưa tin, tai nạn được châm ngòi khi tàu chở hàng của Trung Cộng rời bến cảng mà không được phép. Bắc Kinh nghĩ rằng tàu chiến của Nga nên chọn giải pháp là chặn tàu của Trung Quốc lại, thay vì bắn vào nó. Tàu của Nga đã không thèm đánh điện cảnh báo và thủy thủ đoàn dường như đã vi phạm vào nguyên tắc nhân đạo.
Sau sự cố này, Nga nói rằng họ “hối tiếc vì hậu quả thương tâm đó” nhưng vẫn bảo vệ quan điểm rằng trách nhiệm hoàn toàn thuộc về thuyền trưởng của New Star.
Thái độ quá quắt của Nga đang lẽ gây ra sự căm phẫn của Trung Quốc, nhưng sự hèn nhát của Bắc Kinh đơn giản là đáng xấu hổ.

Khi tường trình về vụ việc, những kênh truyền thông chính thức của chế độ Trung Cộng đã dùng những lời lẽ rất nhập nhằng, cố gắng làm cho vụ việc lắng xuống và giả vờ rằng chế độ không rõ lắm về vụ tấn công. Nhưng thực ra, Trung tâm Tìm kiếm và Cứu Nạn của Trung Cộng đã gọi tàu New Star và xác nhận tín hiệu kêu cứu mà tàu đã phát ra. Chế độ biết rất chính xác điều gì đang xảy ra, và bên cạnh đó, Tòa Lãnh sự quán của Trung Quốc ở Nga cũng đã biết chi tiết về vụ việc từ những tường thuật của truyền thông Nga.
Điều làm người dân Trung Quốc buồn hơn cả là Bắc Kinh, biết rằng tàu của Nga đã khai hỏa mà không có cảnh báo nào, vẫn tiếp tục bao biện cho Nga. Nga đã thừa nhận khi tuyên bố rằng tàu chiến của họ đã nã đạn ba lần, làm chìm tàu chở hàng và gây ra cái chết của bảy thủy thủ. Bắc Kinh thì chỉ tuyên bố rằng Trung Quốc “quan tâm, bị bất ngờ, và không bằng lòng” nhưng vẫn khăng khăng rằng điều đã xảy ra là một tai nạn và tàu chở hàng bị chìm là do hiểm họa tự nhiên ngoài biển.

Thái độ trên của Bắc Kinh là rất bất ngờ, khi mà người ta luôn nghĩ rằng Trung Cộng thường “phản đối mạnh mẽ” các quốc gia Phương Tây, xúi bẩy các đám đông biểu tình trên phố và tẩy chay hàng hóa nhập khẩu từ những quốc gia mà nó chống đối. Bắc Kinh tự gọi nó là một siêu cường đang trỗi dậy nhưng nó lại tha thứ cho hành động giết người có chủ đích của Nga. Nhiều bloggers đã quy trách nhiệm cho chế độ là “nhu nhược và bất tài hơn cả thời mạt của nhà Thanh.”

Có một lý do đằng sau sự hèn nhát bất bình thường của Bắc Kinh. Sự cố này xảy ra khi đang có một cuộc đàm phán quan trọng giữa hai nước. Vào ngày 17 tháng Hai, Trung Quốc và Nga đã ký một bản thỏa thuận, một “Giấy vay dầu”, theo đó doanh nghiệp quốc doanh của Nga có thể vay 25 tỷ USD từ Trung Quốc bằng cách xuất 15 triệu tấn dầu thô mỗi năm cho Trung Quốc trong vòng 20 năm tới. Bắc Kinh không muốn làm hỏng cuộc đàm phán này và đã cố tình nhường nhịn trong vụ việc này.

Thực ra, Bắc Kinh đã không chịu thua vì Nga hiện đang cần sự giúp đỡ từ Bắc Kinh. Hiện tại, giá dầu đang giảm và nền kinh tế của Nga, vốn phụ thuộc rất lớn vào dầu mỏ, đang phải đối mặt mới sự khủng hoảng. Tỷ lệ thất nghiệp tăng lên hàng ngày và các công ty dầu mỏ của nhà nước thì thiếu tiền. Mặt khác, Trung Quốc hiện đang thừa dự trữ ngoại hối. Không may là, trong con mắt của Bắc Kinh, việc mua dầu từ Nga tất cả là để ổn định chính trị và nó không có liên hệ gì đến quyền lợi của người dân Trung Quốc. Cuộc sống của người dân Trung Quôc có quan trọng hay không thì còn phải do Đảng xem xét. Bắc Kinh không muốn làm mất lòng Nga và để lỡ mất cơ hội của cuộc giao kèo này.

Cũng như vậy, Bắc Kinh khá im lặng vì nó không quan tâm nhiều đến vấn đề nhân quyền. Bắc Kinh sợ rằng một khi nó tranh đấu vì nhân quyền cho những thủy thủ đoàn, nó có thể tự rước lấy rắc rối trong tương lai từ những sự cố tương tự. “Chủ quyền luôn đi trước nhân quyền” là nguyên tác cơ bản của Trung Cộng và cả Nga, nước mà vẫn chưa bỏ hẳn thói cai trị kiểu cộng sản và đã đánh đắm tàu chở hàng của Trung Quốc một cách vô lương tâm. Đảng Cộng Sản đã mang súng máy và xe tăng tới để đàn áp các sinh viên tại Quảng trường Thiên An Môn và đang sử dụng sự tra tấn để khuất phục những người bất đồng chính kiến ở Trung Quốc, và nó thà để cho Nga bắn chìm tàu chở hàng còn hơn là để cho nhân quyền đi trước chủ quyền.

Bên cạnh thỏa thuận về dầu mỏ, Nga còn nắm được một số điểm yếu của Đảng Trung Cộng. Nga biết rằng Bắc Kinh cần cái gì và sợ điều gì – Bắc Kinh cần sự ủng hộ khi nó bị chỉ trích về vi phạm nhân quyền. Nó sợ sự phát triển một cách hòa bình của Pháp Luân Công, và chủ nghĩa ái quốc là chỉ được lợi dụng cho mục đích chính trị.

Quan trọng hơn cả, Nga biết bí mật về một nhân vật đại ác trong chính quyền Trung Cộng. Theo như những gì được tiết lộ trong cuốn “Câu chuyện có thật về Giang Trạch Dân”, cựu lãnh đạo của chế độ Trung Cộng đã từng gia nhập KGB vào năm 1955 trong khi ông ta còn là một sinh viên ở Nga. Đây là điều mà Giang không muốn mọi người biết và để giữ bí mật này, ông ta đã ký hiệp ước nhượng 395 triệu mẫu đất [1 mẫu Anh bằng khoảng 0.4 ha] của Trung Quốc cho Nga.

Chừng nào mà Giang còn sống, Bắc Kinh vẫn phải kiềm chế và cam tâm chịu nhục khi nó quan hệ với nước Nga

http://www.tredeponline.com/post/archives/36199

 Thằng Trung cộng rất ngán Nga sô, bởi vì Nga không nói nhưng làm thẳng tay . Đó lấn đất giành biển vói những nước khác chứ có dám xâm phạm vào hải phận hay phần đất của Nga sô đâu . Bắt nạt thằng Việt cộng quen thói, tưởng ăn hiếp Philiipines và Nhật được làm tới . Chỉ có thằng cộng sản Việt nam mới chịu để thằng Trung cộng bợp tai bất cứ khi nào chúng muốn mà thôi, còn những nước khác còn lâu . Vì sao ? bởi vì lãnh đạo của các nước khác có trình độ học vấn cao, chính trị, kinh tế, tài chánh thông suốt, chính sách đối nội, ngoại rõ ràng v.v... và quan trọng nhất là bảo vệ đất nước . Chứ đâu có như mấy thằng lãnh đạn cộng sản Việt nam,cần tiền cắt đất bán, xài bằng giả , kinh tế, tài chánh gà mờ, lại thêm tham nhũng bạo . Mọi việc chỉ biết sao chép từ phương bắc .

Còn nước VN thì sao? Buồn cho nước VN. Ngày nào nước VN còn trong tay cs thì nước và người dân VN vẩn còn phải cam tâm chịu nhục với bọn tàu khựa khi bọn csVN còn nô lệ cho bọn Trung cộng.

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

Cool and Casual

This woman was doing errands on the Upper East Side when I asked if I could take her photograph. I love how she dresses up an otherwise casual look with a flashy belt and gold button details.