Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện đó đây. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện đó đây. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2014

Pelé, Người Cầu Thủ Bình Dân Của Ba Tây Và FIFA World Cup 2014

Pelé, Người Cầu Thủ Bình Dân Của Ba Tây Và FIFA World Cup 2014

Trận đấu bóng tròn quốc tế - FIFA World Cup 2014- (1) được tổ chức tại Ba Tây, Nam Mỹ từ ngày 12/6 đến ngày 13/7, do cầu thủ Pelé thay mặt nước chủ nhà tiếp đón. Nói đến Ba Tây và bóng tròn, giới hâm mộ trên thế giới không ai không biết đến Pelé, người cầu thủ có “cặp chân vàng”.
Pelé sinh ngày 21/10/1940, tại thị trấn Três Corações, Ba Tây. Tên thật là Edson Arantes do Nascimento. Tên gọi Edson đặt theo Thomas Edison nhà khoa học khám phá ra điện. Năm ông sinh, thị trấn Três Corações bắt đầu có đèn điện.
 
Trong quá trình đá bóng Pelé “sút” thủng lưới 1283 lần trong 1363 trận đấu. Kỹ thuật dồi bóng của Pelé được phóng viên thể thao Eduardo Galeano người Uraguay miêu tả: “Khi Pelé chạy vượt địch thủ người ta có cảm tưởng như một chiếc dao cắt ngọt qua một miếng bơ mềm. Khi Pelé bỗng dừng lại, địch thủ hoa mắt lúng túng không biết chận Pelé ở lối nào. Khi Pelé nhảy đón banh, người ta có cảm tưởng Pelé nhảy lên các bậc thang hơn là nhảy vào không gian. Nhưng lời nói không diễn tả được tài của Pelé. Có tận mắt chứng kiến Pelé chơi mới hiểu được thế nào là “bất tử”. Hình ảnh của Pelé thật đã bất tử trong lòng người mộ điệu”.

Giáo sư Nguyễn Đức Tường (Canada) nói, năm 1970 ông xem Pelé lấy giải Jules Rimet lần thứ 3 tại Mexico. Cả đội Ba Tây đều hay, riêng Pelé thì tuyệt. Anh ta nhảy lên dùng đầu hứng quả bóng trông như con hummingbird đang hút nhụy hoa lơ lửng trên không!
Nhưng cái quý nhất của Pelé là tâm hồn đơn giản bình dân chủ trương thăng tiến xã hội và giúp đỡ người yếu kém. Năm 1961 tổng thống Ba Tây Janio Quadron tuyên bố Edson Pelé là bảo vật quốc gia.
Tờ tuần báo Time Magazine của Hoa Kỳ có mục “10 câu hỏi” mỗi kỳ dành cho một nhân vật được chú ý trên thế giới. Số ngày 21/4/2014 Time dành cho Pelé do ký giả Belinda Luscombe từng làm chủ bút Times Magazine thực hiện:
Time: Thưa ông Pelé! Tên một cuốn sách của ông là “Tại sao lại là Bóng Tròn” (Why soccer matters). Ông nghĩ sao mà lấy nhan đề cuốn sách như vậy?
Pelé: Bà không thấy sao ? Tôi nghỉ chơi bóng tròn đã 25 năm. Thế mà những người hâm mộ tôi ở khắp nơi trên thế giới vẫn còn kéo dài qua thế hệ thứ ba hôm nay. Thế bóng tròn không đáng quan tâm là gì?
Time: Đồng ý. Nhưng trong sách ông nói trận đấu năm 1950 tranh giải World Cup với Uruguay Ba Tây thua là một cái tang lớn cho dân Ba Tây như khi tổng thống Kennedy bị ám sát đối với nhân dân Hoa Kỳ. So sánh như vậy có quá đáng không ?
Pelé: Không, tôi nghĩ sự so sánh rất tương xứng. Cường độ xúc động giống nhau. Lúc đó dân Ba Tây coi như Ba Tây đã chết. Năm đó tôi 10 tuổi và lần đầu tiên tôi thấy cha tôi khóc.
Time: Tại sao ông nghĩ rằng từ khi ông thôi đá cho hội banh New York Cosmos của Hoa Kỳ (từ 1975 đến 1977) thì phong trào bóng tròn không được dân chúng Hoa Kỳ quan tâm nhiều?
Pelé: Không! Bóng tròn vẫn còn được quan tâm tại Hoa Kỳ đó chứ. Nhiều cầu thủ nổi tiếng trên thế giới được thuê đến chơi cho đội bóng New York Cosmos. Về mặt tổ chức giới trẻ Hoa Kỳ được quan tâm hơn giới trẻ ở Ba Tây, Argentina, Uruguay và nhiều nước khác. Giới trẻ Hoa Kỳ ai cũng chơi bóng tròn được. Hoa Kỳ còn có một đội bóng nữ giỏi nhất thế giới. Đương nhiên phong trào hâm mộ bóng tròn tại Hoa Kỳ không cao bằng ở Ý hay Ba Tây, nhưng cũng không phải là thấp.
Time: Theo ông, Ba Tây có hy vọng gì trong giải World Cup 2014 này?
Pelé: Ba Tây có một đội bóng nổi tiếng thế giới và sẽ được thế giới quan tâm. Nhưng trận đấu World Cup lần này có khác. Ba Tây thường có đoàn tiền vệ và hai cánh hai bên giỏi, lần này thì có đoàn thủ thành giỏi nhưng thiếu nhân sự tấn công. Neymar có tài nhưng mới 22 tuổi còn quá trẻ và chưa bao giờ tham dự World Cup.
Time: Dư luận than phiền chính phủ Ba Tây lo xây cất cơ sở và tiện nghi cho World Cup 2014 mà không quan tâm gì đến những thiệt thòi dân chúng sống trong vùng phải gánh chịu. Ông nghĩ thế nào?
Pelé: Dân chúng than phiền cũng phải, chưa nói đến nạn tham nhũng do xây cất mà ra. Nhưng Ba Tây có hai dịp tốt để tăng thu và phát triển du lịch, đó là World Cup và Olympics. Các lực sĩ không dính líu gì đến tham nhũng, họ chỉ nỗ lực xiển dương giá trị của Ba Tây, không nên chống họ và làm ảnh hưởng đến World Cup. Hãy kiên nhẫn một chút, chờ World Cup xong hãy truy tố bỏ tù các chính khách tham nhũng và những tên tội phạm đục nước thả câu khác.
Time: Trong quá trình đá bóng, ông “sút” thủng lưới 1280 lần. Ông thích cú “sút” nào nhất ?
Pelé: Chính thức là 1283 lần. Nhiều cú “sút” được bàn đến vì khó hoặc xẩy ra trong những trận đấu quan trọng. Nhưng những cú “sút” đẹp thì không kể nó diễn ra trong trận đấu lớn nhỏ nào. Đẹp là đẹp. Tôi nhớ nhất là cú “sút” trong trận chung kết World Cup với Thụy Điển năm tôi 20 tuổi, lần đầu tiên tham dự World Cup. Nhưng giới mộ điệu cho rằng cú “sút” thứ 1000 của tôi là đáng tiền nhất.
Time: Ông có nghĩ bây giờ ông cũng có thể chơi hay như khi mới vào nghề không ?
Pelé: Có thể tôi chơi hay hơn vì bây giờ phương tiện tập dượt, môi trường, sân đấu tối tân hơn. Và luật chơi được cải tiến bảo vệ cầu thủ để họ có thể chơi đẹp mà ít sợ nguy hiểm.
Time: Nếu bây giờ được tự do chọn lựa ông thích chơi trong đội nào?
Pelé: Tôi ưu tiên chọn đội bóng Santos của Ba Tây trước. Sau đó là đội Barcelona. Đội này chơi giống như đội Santos.
Time: Ông giúp quảng cáo nhiều phẩm vật trên thế giới. Có giao kèo quảng cáo nào người ta mời mà ông thoái thác không?
Pelé: Có! Có nhiều lắm. Tôi chỉ nhận quảng cáo phẩm vật hay dịch vụ nào tôi nghĩ là hữu ích. Người ta đề nghị tôi nhiều giao kèo quảng cáo thuốc xì gà, rượu. Tôi không cho những thứ đó có lợi cho giới trẻ nhất là cho lực sĩ thể thao.
Time: Tại sao lúc nào ông cũng tự gọi mình là Pelé, trong khi ông còn có tên gọi là Edson?
Pelé: Việc tôi làm trong đời có xấu có tốt. Cái gì tốt thì Pelé làm, cái gì xấu thì để cho Edson làm!
Trần Bình Nam
April 21, 2014
Việt Báo Online

Từ trái, thủ môn đội tuyển Nguyễn Quốc Bảo, cầu vương Pele (Brazil) và tiền đạo đội tuyển Quang Ðức Vĩnh tại Thái Lan năm 1974.


Các thiếu nữ Nhật vây quanh chàng thủ môn Phạm Văn Rạng tài hoa xin chữ ký

Một pha tung người đấm bóng trong trận đấu với Ðan Mạch

Ðội tuyển Việt Nam Cộng Hòa đoạt huy chương vàng SEAP Games 1959



Dân Mỹ xin tị nạn tại Bắc Hàn .

Bắc Triều Tiên bắt giữ một công dân Mỹ

Hiện tại Bình Nhưỡng còn đang bắt giữ một công dân Mỹ Kenneth Bae, bị quy tội truyền giáo trái phép.
Hiện tại Bình Nhưỡng còn đang bắt giữ một công dân Mỹ Kenneth Bae, bị quy tội truyền giáo trái phép.
ARCHIVES REUTERS/KYODO

Đức Tâm
Hôm nay, 26/04/2014, thông tấn xã Bắc Triều Tiên KCNA loan tin là chính quyền Bình Nhưỡng đã bắt giữ một du khách Mỹ, 24 tuổi, và dường như người này muốn xin tỵ nạn tại Bắc Triều Tiên. Việc bắt giữ xẩy ra cách nay hai tuần, nhưng Bắc Triều Tiên đợi cho đến khi Tổng thống Mỹ Barack Obama đến Seoul thì mới công bố thông tin này.

Từ Seoul, thông tín viên RFI Frédéric Ojardias cho biết thêm chi tiết :
« Người này có hành vi nóng nẩy khi làm các thủ tục nhập cảnh vào Bắc Triều Tiên. Thông tấn xã Bắc Triều Tiên KCNA đã viết như vậy để giải thích về việc bắt giữ Matthew Todd Miller, du khách Mỹ, 24 tuổi.
Vẫn theo chính quyền Bắc Triều Tiên, người Mỹ này dường như đã xé giấy phép nhập cảnh du lịch khi tới sân bay Bình Nhưỡng và kêu to lên rằng anh ta muốn xin tỵ nạn. KCNA cho biết là du khách này đã bị giữ lại và sẽ bị điều tra.
Việc bắt giữ du khách Mỹ xẩy ra ngày 10/04, nhưng Bắc Triều Tiên đã đợi cho đến khi Tổng thống Barack Obama thăm Seoul, thì mới cho công bố thông tin này. Chính quyền Bình Nhưỡng tìm mọi cách buộc Washington đối thoại với mình, đặc biệt trong việc giảm bớt các cấm vận quốc tế. Thế nhưng, Hoa Kỳ đã đòi Bắc Triều Tiên phải có những biện pháp nhằm phi hạt nhân hóa như là điều kiện tiên quyết để tiến hành các cuộc thảo luận.
Trong thời gian qua, nhiều du khách Mỹ đã bị Bắc Triều Tiên bắt giữ. Một trong những người này là Kenneth Bae, bị cáo buộc truyền giáo và bị cầm tù tại Bắc Triều Tiên từ tháng 11/2012 ».




Kim Jong Un kêu gọi chuẩn bị chiến tranh với Mỹ

Lãnh đạo BTT Kim Jong Un đến thăm một đội pháo binh thuộc đơn vị 851 kPa. Ảnh do KCNA cung cấp, không ghi rõ ngày tháng cụ thể.
Lãnh đạo BTT Kim Jong Un đến thăm một đội pháo binh thuộc đơn vị 851 kPa. Ảnh do KCNA cung cấp, không ghi rõ ngày tháng cụ thể.
REUTERS/KCNA

Anh Vũ
Phản ứng về chuyến công du Hàn Quốc của Tổng thống Obama, lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Un ra lời hiệu triệu quân đội sẵn sàng cho « một cuộc xung đột sắp nổ ra » với Mỹ. Cùng lúc đó các thông tin thu từ vệ tinh cho thấy nhiều dấu hiệu Bình Nhưỡng đang chuẩn bị vụ thử hạt nhân mới.

Trong lúc Tổng thống Mỹ đang ở thăm Hàn Quốc, thì truyền thông Bình Nhưỡng liên tục đưa tin Tổng tư lệnh tối cao quân đội Kim Jong Un tới thăm các đơn vị quân đội, tạo không khí chiến tranh sắp bùng nổ. Một động thái như để phát đi tín hiệu tỏ tức giận về mối liên minh Hoa Kỳ và Hàn Quốc.
Truyền thông miền Bắc trong những ngày qua cũng thường xuyên phát đi những cảnh báo đất nước đang bên bờ một cuộc chiến tranh. Hãng thông tấn KCNA, hôm nay 26/04/2014 đăng tải bài xã luận trong đó có đoạn viết : « Lãnh tụ tối cao Kim Jong Un đã nói rằng không có gì quan trọng hơn trong lúc này là chuẩn bị chiến đấu chống lại một cuộc xung đột sắp xảy ra với Mỹ ». Minh họa cho bài viết là bức hình chụp Kim Jong Un đang chỉ huy một đơn vị pháo binh tập bắn, nhưng không nói rõ địa điểm, thời gian cụ thể của sự kiện.
KCNA cũng cho biết thêm là lãnh tụ của họ đã « phê bình nghiêm khắc các đơn vị không chuẩn bị tốt cho chiến đấu ». Trong khi đó vào ngày hôm qua, tại Seoul, bình luận về việc những hình ảnh vệ tinh cho thấy nhiều khả năng Bình Nhưỡng đang chuẩn bị thử hạt nhân, Tổng thống Obama đã cảnh cáo việc theo đuổi và Bình Nhưỡng sẽ phải nhận thêm những trừng phạt mới nếu tiến hành vụ thử hạt nhân lần thứ 4.


Tổng thống Obama : Bắc Triều Tiên là « Nhà nước côn đồ suy yếu »

Tổng thống Mỹ Barack Obama phát biểu trước một đơn vị đồn trú của Mỹ tại Yongsan, Hàn Quốc, ngày 26/04/2014
Tổng thống Mỹ Barack Obama phát biểu trước một đơn vị đồn trú của Mỹ tại Yongsan, Hàn Quốc, ngày 26/04/2014
REUTERS/Lee Jin-man

Tú Anh
Trước khi sang Maylaysia, Tổng thống Mỹ đến Hàn Quốc nơi có 28 ngàn quân Mỹ trấn đóng để đối phó với mối đe dọa của Bắc Triều Tiên. Đe dọa hạt nhân của Bình Nhưỡng là trọng tâm của chặng thứ hai trong vòng công du 4 nước châu Á. Hình ảnh vệ tinh cho thấy quân đội của Kim Jong Un chuẩn bị thử nghiệm hạt nhân lần thứ tư.

Trong hai ngày viếng thăm đồng minh Hàn Quốc, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã dành thời giờ tiếp xúc với doanh nhân Hàn Quốc, khuyến khích đầu tư vào Hoa Kỳ. Sau đó, ông cùng Tổng thống Park Geun Hye thăm Bộ Tư lệnh liên quân Mỹ-Hàn.
Trong bài diễn văn, Tổng thống Mỹ so sánh hai chế độ Bắc Triều Tiên và Nam Hàn. Theo ông, Hàn Quốc là một nền « dân chủ lớn mạnh » còn Bắc Hàn là một « Nhà nước côn đồ chỉ biết áp bức, bỏ đói dân chúng thay vì nuôi dưỡng hy vọng và ước mơ của dân tộc ».
Tổng thống Mỹ nhận định Bình Nhưỡng là chế độ « suy yếu » nên mới tăng cường sức mạnh quân sự ở biên giới mà ông gọi là « đường ranh ngăn chận tự do ». Lãnh đạo Hoa Kỳ cảnh báo Bắc Triều Tiên sẽ bị cô lập thêm nếu thử bom nguyên tử.
Vài giờ trước khi Tổng thống Barack Obama đến Seoul, Viện nghiên cứu đại học Mỹ -Hàn Johns Hopskins công bố hình ảnh vệ tinh chụp hai ngày trước cho thấy có nhiều hoạt động tại trung tâm hạt nhân Punggye-ri nơi mà Bắc Triều Tiên đã ba lần thử nổ hạt nhân.
Theo các chuyên gia Mỹ-Hàn thì Bình Nhưỡng đang chuẩn bị vụ thử nghiệm thứ tư nhưng rất có thể không dám làm vì e phản ứng bất lợi từ Bắc Kinh. Theo tin của truyền thông Hàn Quốc, trong ba tháng đầu năm nay, Trung Quốc đã không xuất khẩu dầu mỏ cho Bắc Triều Tiên.


Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

Gặp gỡ và mắc lưới trên facebook

Bài viết này Ròm tìn cờ thấy được từ FB của anh Danh Nguyencong
-----------------------------------------------Gặp gỡ và mắc lưới trên facebook

Gặp gỡ trên facebook

Cuối cùng, tôi cũng bị mắc lưới facebook.
Nói cuối cùng, vì đã năm bảy năm nay, tôi cố gắng khoanh tay đứng ở ngoài. Kính nhi viễn chi.
Đọc báo, tôi biết không có mạng lưới truyền thông đại chúng nào phát triển nhanh như facebook. Chỉ ra đời mới có 10 năm, đến đầu năm nay, mỗi tháng đã có 1.23 tỉ người, tức một phần sáu dân số thế giới, sử dụng facebook. Riêng ở Mỹ, số người sử dụng facebook lên đến 71% tổng số người trưởng thành.
Ở Việt Nam, theo báo Nhân Dân vào đầu tháng 2 vừa rồi, có 19.6 triệu người sử dụng facebook, chiếm 74.1% số người dùng internet và 20% dân số cả nước.




Có thể nói, trong lịch sử nhân loại, chưa bao giờ có một phương tiện truyền thông đại chúng nào lan rộng một cách nhanh chóng như vậy. Báo chí, dưới hình thức in, mất cả mấy trăm năm mới đến được, phần nào, những tầng lớp bình dân. Cả radio lẫn ti vi đều mất trên dưới nửa thế kỷ mới thực sự được đại chúng hóa, đặc biệt, ở các nước nghèo. Hơn nữa, cái gọi là mạng lưới ở tất cả các phương tiện truyền thông truyền thống ấy chỉ có ý nghĩa rất giới hạn, chủ yếu, giữa những người sản xuất. Quần chúng, từ độc giả đến khán giả và thính giả, lúc nào cũng chỉ là những kẻ tiêu thụ thụ động và xa cách. Họ, dù đông đảo đến mấy, vẫn đứng ngoài. Sự tương tác, nếu có, cũng thật họa hoằn. Facebook thì khác. Nó đúng là một mạng lưới buộc mọi người lại với nhau. Ai cũng có quyền lên tiếng. Mọi người đều bình đẳng như nhau. Chỉ có một khác biệt ở phạm vi: người được nghe nhiều, người được nghe ít. Vậy thôi.
Mà không cần đọc báo, chỉ cần lắng nghe bạn bè tán gẫu trong các buổi nhậu nhẹt, tôi cũng biết được là facebook phổ biến đến độ nào. Hầu như ai cũng vào facebook. Một số người ăn dầm ở dề trên facebook. Đề tài các câu chuyện của họ phần lớn châu tuần chung quanh facebook. Niềm vui và nỗi giận của họ nảy sinh từ facebook. Bạn bè của họ, những kẻ họ thường tâm sự và lắng nghe tâm sự, cũng đến từ facebook. Nghe, tôi vừa thèm thuồng vừa sợ hãi. Thèm thuồng trước cái thế giới mênh mông của họ. Sợ hãi vì số thời gian trong ngày họ bỏ ra cho facebook. Bởi vậy, suốt cả mấy năm, facebook, với tôi, vừa là một sự quyến rũ lại vừa là một đe dọa. Tôi biết tôi không có nhiều thì giờ để phây bút phây biếc. Tôi cũng biết tính tôi không thích đàn đúm, ngay trong đời thật, đừng nói gì trong thế giới ảo. Những lúc ấy, bạn bè thường xúi tôi vào facebook. Tôi đều từ chối.
Vậy mà, cuối cùng, cách đây một tuần, tôi lại xiêu lòng. Cũng mở trang facebook riêng. Cũng post bài này bài nọ. Cũng kết bạn kết bè và cũng lao xao “like” với người này người khác. Hơi chút thẹn thùng, tôi dùng hai câu thơ của Trần Lê Kỷ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 để phân bua: “Thấy ai ai ta cũng ai ai / Ai ai ấy thì ta cũng… ấy”.

“Ấy” trên facebook, tôi có niềm vui là được gặp gỡ rất nhiều bạn bè. Trước, tôi chỉ có một số bạn, chủ yếu thuộc hai giới: các nhà văn/nhà thơ và các nhà giáo, hai lãnh vực sinh hoạt chính trong đời sống của tôi. Trong cả hai giới, tôi biết nhiều nhưng để gọi được là thân thì lại rất ít. Thực sự tâm sự được, chỉ có vài người. Trên facebook thì khác. Không những có bạn mà còn có bạn của bạn rồi bạn của bạn của bạn, v.v… Rất nhiều người, được gọi là bạn trên facebook nhưng tôi chưa bao giờ gặp, chưa bao giờ nghe tên. Nhưng tôi lại có thể THẤY được họ. Không phải là thấy mặt mũi hay dáng dấp hay quần áo và nhà cửa của họ. Mà là thấy được tính cách và phần nào tâm tư của họ. Chỉ cần vào trang facebook của từng người, qua những gì được họ đăng tải hay bình luận, chúng ta cũng có thể thấy được người ấy thích gì, thường quan tâm đến vấn đề gì; nếu những vấn đề ấy liên qua đến chính trị, chúng ta cũng thấy được khuynh hướng cũng như trình độ và mức độ nhận thức của họ ra sao, v.v… Ngay với những người tôi quen biết ngoài đời, khi vào facebook, có cảm giác như họ là kẻ khác. Ngoài đời, họ hiền lành, khiêm tốn, nhỏ nhẹ bao nhiêu, trên facebook, họ dí dỏm, hoạt ngôn, xông xáo trong các cuộc tranh luận bấy nhiêu.
Nhưng thích nhất trên facebook là được gặp lại những người quen và những người thân.
Quen, phần lớn là bạn học cũ và bạn cùng làng ngày xưa. Bạn học cũ, từ tiểu học và trung học của tôi, đều ở Quảng Nam và Đà Nẵng. Sau năm 1975, vào Sài Gòn, tôi mất liên lạc với tất cả. Bạn học ở đại học, hầu hết đều ở Sài Gòn, sau ngày tôi vượt biên, qua Pháp rồi sang Úc, cũng dần dần bặt tăm. Bây giờ, qua facebook, tôi mới được gặp lại một số. Nhìn hình, thấy ai cũng già và lạ hoắc, hầu như không thể nhận ra được. Nhưng qua họ, bao nhiêu kỷ niệm hồi nhỏ lại sống dậy và ùa về, nườm nượp. Tự dưng thấy bâng khuâng. Và hình như có chút nhớ nhung. Chả nhớ ai cụ thể cả. Chỉ nhớ. Hay nói như Xuân Diệu, “biết nhớ ai đành chỉ nhớ xa xôi”.
Người thân, nhiều nhất là trong gia đình và họ hàng. Đã gần 10 năm nay, tôi không được về Việt Nam, ngay với anh em ruột, cũng không được gặp gỡ. Lâu, thật họa hoằn, mới điện thoại hay email cho nhau. Cũng lâu, thật lâu, mới gửi cho nhau vài bức ảnh. Thì cũng hình dung được ít nhiều cuộc sống của nhau. Nhưng chỉ khi vào facebook, tôi mới thực sự THẤY các em tôi. Thấy được mặt mũi. Thấy được các sinh hoạt. Thấy được các suy nghĩ. Thấy được các tác phẩm chúng đã hoàn tất. Và thấy cả bạn bè của chúng.
Có thể nói, trên facebook, người ta không những gặp nhau mà còn thấy được nhau. Cái gọi là tình bạn trên facebook, do đó, vừa ảo vừa thật. Hơn nữa, có khi còn thật hơn cả thật.
Xưa, bạn bè chỉ giới hạn trong một không gian nhất định: bạn cùng làng, cùng lớp, cùng trường, cùng sở. Tất cả đều gắn liền với một địa điểm. Từ đời sống nông thôn đến đời sống thành thị, khái niệm địa điểm ấy thay đổi chút xíu: ở nông thôn, địa điểm ấy thường gắn liền với các đơn vị hành chính: làng, xã, huyện, và, hiếm hơn, tỉnh; ở thành thị, địa điểm ấy thường gắn liền với các đơn vị nghề nghiệp: chợ, công sở hay công ty. Nhưng tất cả những sự gần gũi ấy chưa chắc đã giúp người ta thấy được nhau một cách trọn vẹn. Thường, chỉ một góc. Có khi chỉ là một góc thật nhỏ. Trên facebook, tính cách của người ta hiện ra rõ nét hơn. Dường như, cho đó là một thế giới ảo, nhiều người rất thành thực trong việc khoe khoang cũng như giãi bày tâm sự. Bất kể nội dung hay mức độ của sự khoe khoang hay giãi bày ấy thế nào, riêng sự thành thực như vậy đã đáng quý. Thành thực đến mức quên cả ý niệm về sự riêng tư.
Cũng có thể nói, facebook dần dần làm thay đổi quan hệ cá nhân giữa người và người. Theo Pew Research Center, khoảng một nửa những người sử dụng facebook có trên 200 bạn.
Trời, với những người ngoại đạo của facebook, nghe con số ấy, hẳn không khỏi kinh ngạc. Bạn ở đâu mà lắm thế? Giới hạn trong không gian và địa điểm, bạn, theo nghĩa truyền thống, cả đời dồn lại may lắm mới được vài chục người. Bây giờ, người ta có cả hàng trăm người; một số, có cả hàng ngàn người. Con số ấy sẽ trở thành một lực lượng đáng kể. Trước hết, lực lượng cho giới làm thương mại: đó là đối tượng để người ta quảng cáo và là một trong những nguồn lợi lớn, cực lớn cho người sáng lập Facebook, Mark Zuckerberg. Dĩ nhiên, nó cũng là một lực lượng rất có ý nghĩa cho các thay đổi về chính trị và xã hội. Cuộc cách mạng tại Trung Đông và Bắc Phi cách đây mấy năm là một ví dụ.
Nhiều người đã thấy điều đó. Dĩ nhiên công an Việt Nam cũng thấy. Bởi vậy, trong cái đám bạn bè đông đúc trên facebook, chắc là có khá nhiều công an giả dạng để theo dõi và quấy rối. Chán.
Theo Diễn Đàn Thế Kỷ

Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2014

Crimée Ukraine : Tư bản và Cộng sản đụng độ .....

Crimée : Phương Tây gia tăng trừng phạt, Nga trả đũa

Tổng thống Mỹ Barack Obama ra tuyên bố về Ukraina, Washington, 20/03/2014
Tổng thống Mỹ Barack Obama ra tuyên bố về Ukraina, Washington, 20/03/2014
REUTERS

RFI
Hôm nay, 20/03/2014, phương Tây và Nga đều tỏ thái độ cứng rắn trong vụ khủng hoảng Ukraina : Matxcơva trả đũa ngay lập tức sau khi phương Tây thông báo gia tăng các biện pháp trừng phạt.

Nga đã công bố danh sách các biện pháp trừng phạt nhắm vào các quan chức Hoa Kỳ chỉ vài phút sau khi Tổng thống Mỹ Barack Obama thông báo những biện pháp mới.
Bộ Ngoại giao Nga đã cảnh báo : « Đối với mỗi hành động thù địch, chúng tôi sẽ đáp lại tương xứng ». Mặt khác, phát ngôn viên điện Kremlin cho rằng các trừng phạt của phương Tây nhắm vào Nga là « không thể chấp nhận được ».
Danh sách trừng phạt đầu tiên của Nga nhắm vào ba cố vấn của Tổng thống Obama và nhiều nghị sĩ, trong số này có Thượng nghị sĩ John McCain. Ngay lập tức, ông McCain tuyên bố là ông « tự hào » vì bị Nga trừng phạt.

Trong một tuyên bố ngắn tại Nhà Trắng ngày hôm nay, Tổng thống Mỹ Obama đe dọa Matxcơva là các biện pháp trừng phạt có thể còn tiếp tục gia tăng và nhắm vào « những lĩnh vực chủ chốt » của Nga. Ông nói : « Nước Nga phải hiểu rằng việc tiếp tục leo thang sẽ chỉ càng làm cho họ bị cô lập thêm đối với cộng đồng quốc tế ».
Về phần mình, 28 thành viên Liên Hiệp Châu Âu nhóm họp Thượng đỉnh tại Bruxelles và sẽ quyết định kéo dài thêm danh sách các nhân vật Nga và Ukraina thân Nga bị cấm nhập cảnh và bị phong tỏa tài sản ở nước ngoài. Theo các nguồn tin ngoại giao, hơn một chục nhân vật sẽ được bổ sung vào danh sách 21 người đã bị trừng phạt từ hôm thứ Hai, 17/03.
Theo Tổng thống Litva, danh sách 21 người bị trừng phạt, được công bố ngày 17/03, còn quá ít, vì đây chỉ là những quan chức cấp thấp. Bây giờ, cần phải nhắm vào hàng ngũ những người thân cận với Tổng thống Vladimir Putin.
Tổng thống và Thủ tướng các thành viên Liên Hiệp Châu Âu cũng đe dọa trừng phạt kinh tế, nhưng một số thành viên tỏ ra rất ngần ngại. Theo Tổng thống Pháp François Hollande, « nếu nước Nga chấp nhận tiến hành đàm phán » và « nếu có việc giảm căng thẳng », thì sẽ không thêm các trừng phạt khác. Ngược lại, « nếu có việc gia tăng những đòi hỏi không chính đáng, các hoạt động quân sự, đe dọa, thì sẽ có các trừng phạt khác ».
Tuy nhiên, Thủ tướng Bỉ Elio Di Rupo cảnh báo : « Chúng ta phải hết sức thận trọng » bởi vì Liên Hiệp Châu Âu vừa phải phòng bị các vũ khí đề phòng về sau này có leo thang căng thẳng, vừa phải « chú ý tới các lợi ích » của Châu Âu.
Thủ tướng Thụy Điển Fredrik Reinfeldt cho biết, có 400 doanh nghiệp Thụy Điển đang làm ăn tại Nga và họ rất lo ngại về những gì sẽ xẩy ra.

Nếu như Châu Âu còn tranh luận về việc trừng phạt kinh tế Nga, thì khối này chắc chắn đạt được đồng thuận về việc hủy bỏ Hội nghị Thượng đỉnh Châu Âu – Nga, dự kiến tổ chức vào tháng Sáu tới, tại Sotchi. Việc tổ chức Thượng đỉnh G8 tại Sotchi cũng có thể bị hủy bỏ.
Đồng thời, Châu Âu cũng khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ đối với Ukraina, qua việc ký kết « vế chính trị » trong bản Hiệp định liên kết Châu Âu-Ukraina, vào ngày mai, 21/03, tại Bruxelles.
Trong bối cảnh đó, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon bày tỏ thái độ « rất lo ngại » và trong ngày hôm nay, ông hội đàm với Tổng thống Nga Putin tại Matxcơva.
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, một lần nữa, kêu gọi Matxcơva và Kiev cần tiến hành « một cuộc đối thoại trung thực, mang tính xây dựng », và nhấn mạnh đến sự cần thiết triển khai tại Ukraina các quan sát viên của Liên Hiệp Quốc và của Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu – OSCE.

Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

Từ Crimea (Ukraine) đến Việt Nam, xa hay gần? (J.B Nguyễn Hữu Vinh)

Từ Crưm đến Việt Nam, xa hay gần?

J.B Nguyễn Hữu Vinh, viết từ VN 2014-03-18

000_Par7823174-305.jpg
Người dân Simferopol, Crimea đi bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý hôm 16/3/2014.
AFP PHOTO / VIKTOR DRACHEV
Sáng nay, 17/3/2014, Crưm (Crimea), phần lãnh thổ của Ukraina đã công bố kết quả “bỏ phiếu” để ly khai Ukraina và sáp nhập vào Nga. Kết quả được công bố là 96% số phiếu ủng hộ việc ly khai khỏi Ukraina để sáp nhập phần lãnh thổ này vào nước Nga. Như vậy, về hình thức, số phận của vùng lãnh thổ Crưm đã được định đoạt.

Một hình thức độc tài mới

Ukraina, một nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ đã tách ra khi khối cộng sản đổ sụp với những hệ lụy chưa dứt bởi sau khi chế độ cộng sản bạo tàn chấm dứt, đất nước này lại bị cai trị bởi nhà độc tài mang tên “Tổng Thống” – một hình thức độc tài mới theo kiểu Putin. Ở đó, Tổng thống Viktor Yanukovych đã sống như đế vương với đầy đủ sự xa hoa, sang trọng có thể có của một ông hoàng và mang đầy đủ sự căm phẫn đến tột độ của người dân. Kết quả là một cuộc lật đổ ngoạn mục và con đường của nhà độc tài là tháo chạy đến đồng minh. Thông thường, các chế độ độc tài tìm đến nhau ở những điểm chung để nương náu. Ở đây, Yanukovych đã tìm đến Putin.

Crưm với diện tích gần 30 nghìn km 2 và số dân gần hai triệu người, trước khi xảy ra biến cố ở Ukraina, nó vẫn thuộc về Ukraina. Nhưng, kể từ khi chính biến xảy ra ở Ukraina, nhà độc tài “Tổng thống Viktor Yanukovych và các phụ tá chạy trốn khỏi dinh thự tổng thống bằng trực thăng” sang Nga, thì tình hình tại đây có nhiều biến động. Những đoàn quân không đeo phù hiệu, những đoàn chiến xa, trực thăng của Nga bay trên bầu trời Crưm, viên “tổng thống” lưu vong trên đất Nga… đã làm tình hình Crưm nóng lên từng ngày. Thế rồi với chiêu bài “bảo vệ lợi ích” của Nga trên khu vực này, Nga đã triển khai các hành động quân sự. Đi đôi với các hành động quân sự, là bộ máy ở Crưm được vận hành theo chiều hướng đổ về nước Nga ngoại bang. Kết quả là đi tới một cuộc “Trưng cầu dân ý” để “lấy ý kiến nhân dân” về việc sáp nhập vào Nga.
Và dĩ nhiên là con số 96% cử tri đi bỏ phiếu đã chọn cách bám theo Nga. Điều mà người Nga mong đợi và cũng là những người yêu mến Ukraina cảm thấy xót xa đau đớn. Nhưng, điều nguy hiểm hơn, là việc này đã tạo một tiền lệ cho việc đòi sáp nhập vào Nga lan sang các vùng khác của Ukraina.
Thế nhưng, chẳng lẽ cả khu vực rộng lớn 30.000 km vuông và hai triệu dân Crưm đã không ý thức được vấn đề dân tộc, đất nước… khi họ đồng tình với việc sáp nhập vào Nga? Tôi nghĩ rằng không hẳn vậy. Mặc dù có thể là cuộc “Trưng cầu dân ý” đã nêu lên tỷ lệ phiếu gần như tuyệt đối.
Sở dĩ những nghi ngờ này có cơ sở tồn tại, chỉ vì việc gọi là “Trưng cầu dân ý” được thực hiện trong hoàn cảnh của Crưm nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Nga. Quân đội Nga hiện đang kiểm soát phần lớn bán đảo đông người Nga sinh sống này và các cử tri được cho là sẽ ủng hộ việc tách khỏi Ukraina. Trong khi đó Nga can thiệp vào Crưm bằng cách kiểm soát các tòa nhà chính quyền và phong tỏa quân lính Ukraina tại các căn cứ của họ sau khi Tổng thống thân Nga Viktor Yanukovych bị quốc hội Ukraina phế truất trước sức ép biểu tình ở Kiev ngày 22/2.
Những lời nói từ chính miệng Tổng thống Nga Putin lộ rõ sự dối trá khi cho rằng lực lượng mặc quân phục giống Nga không mang phù hiệu là “Lực lượng phòng vệ của Crưm” đã nhanh chóng bị lật tẩy. Những lời nói này, chỉ khẳng định thêm một lần nữa rằng cái nguồn gốc cộng sản trong con người Putin vẫn chưa mấy thay đổi, chỉ chờ dịp là tái diễn mà thôi.

Trông người lại ngẫm đến ta

tq-vn-250.jpg
Làn sóng người TQ tràn ngập lãnh thổ Việt Nam, các phố Tàu, xóm trọ người Tàu, khu công nghiệp người Tàu khắp nơi. Citizen photo.
Thoạt trông, những thông tin về tình hình Ukraina được đăng tải trên báo chí Việt Nam, đa phần có thái độ ủng hộ và đưa tin có lợi cho việc chiếm đóng và bành trướng của Nga làm người ta giật mình. Cái giật mình này cũng dễ hiểu, đó là sự giật mình về số phận của một dân tộc, một đất nước, một vùng lãnh thổ đang bên cạnh một kẻ lớn xác, nhưng mang đầy dã tâm xâm lược. Đặc biệt là khi ở đó có một bộ máy cầm quyền hèn nhát luôn tìm cách vừa lòng quân giặc, ngược lại luôn hung hãn với dân.
Người ta có quyền đặt câu hỏi: Nếu một ngày nào đó, hoàn cảnh đất nước Việt Nam chúng ta trước bọn bành trướng Bắc Kinh tương đồng hoàn cảnh Ukraina trước nước Nga hiện nay, điều gì sẽ xảy ra? Những điểm tương đồng sau đây cho chúng ta những điều e ngại.
- Trước hết, với làn sóng người Trung Cộng tràn ngập lãnh thổ Việt Nam không chỉ ở Miền Bắc, Miền Trung và cả Miền Nam, không chỉ là du lịch, làm ăn một năm dăm bảy tháng mà là các dự án thuê đất trồng rừng, cho thuê đất, biển đến 70 năm, các công trình dân dụng, công nghiệp đều có nhà thầu Trung Quốc… Các phố Tàu, xóm trọ người Tàu, khu công nghiệp người Tàu khắp nơi. Ai dám chắc chắn rằng sẽ không có lúc nào đó, theo gương người Nga, nhà cầm quyền Trung Quốc không đưa binh lính, xe tăng, đại bác và các phương tiện chiến tranh đến Việt Nam để “bảo vệ lợi ích” của đám người Tàu đã cắm chốt tại đó?
- Với hai đảng “cùng ý thức hệ cộng sản”, khi lòng dân nổi giận, ai dám khẳng định rằng khi đó, Đảng CSVN không chạy sang Tàu để tìm chỗ dựa vững chắc cho sự tồn tại của ý thức hệ cộng sản. Và cũng chính vì thế, trên đất nước sẽ không thể thiếu những trò chính trị cù nhầy, bịp bợm, đánh tráo.
- Hẳn nhiên khi đó, chúng ta sẽ có những cuộc “Trưng cầu dân ý” và với sự lãnh đạo “sáng suốt,, tài tình và tuyệt đối” hiện nay của Đảng CS, thì tỷ lệ 96% thì còn là quá ít. Hãy nhìn xem cuộc “Lấy ý kiến về Dự thảo Hiến Pháp” (LYKDTHP) vừa qua ở Việt Nam thì sẽ rõ. Những con số hàng chục triệu ý kiến đồng tình với bản Dự Thảo Hiến Pháp mà tuyệt nhiên không thấy những ý kiến ngược lại đã nói lên tất cả. Thậm chí, riêng tỉnh Bình Dương chỉ với 1,5 triệu dân đã có… hơn 44 triệu ý kiến đóng góp Dự thảo Hiến Pháp.  Thế nhưng, cả nước lại chỉ có 26 triệu ý kiến góp ý, sửa đổi Hiến Pháp(?) Mặc dù con số, lời nói và thực tế cứ đá nhau ào ào như vậy, nhưng đảng vẫn cho rằng, như vậy là “hợp lòng dân”.
- Khốn nỗi, đảng cứ đổ cho “cỗ lòng” của người dân, nhưng những “cỗ lòng” đó cứ chịu oan khuất mà không thể kêu lên như đám học sinh ngoài đường là: “đéo hợp”.
- Điểm tương đồng tiếp theo, là căn bệnh đánh tráo theo kiểu “bầu cua tôm cá” được sử dụng thành thạo bởi nhà nước độc tài  gốc cộng sản. Đó là hình thức “lấy ý kiến”. Nếu như ở cuộc LYKDTHP vừa qua ở Việt Nam, tờ giấy ghi ý kiến đưa đến cho người dân chỉ được có hai cách đánh dấu là: 1* Đồng ý với toàn văn dự thảo (xin ghi nguyên chữ Đồng ý). 2* Đồng ý với nội dung khác trong dự thảo và xin bổ sung những điều, khoản…
Theo cách đưa ra hai lựa chọn đó, Đảng chắc chắn nắm phần thắng theo kiểu “Tao bảy, mày ba” còn nếu không đồng ý thì “mày ba, tao bảy” – một trò chợ giời.
Thì ở cuộc Trưng cầu dân ý tại Crưm, người ta cũng có hai lựa chọn:
1* Bạn có đồng ý với việc Crưm được sáp nhập vào lãnh thổ Liên bang Nga hay không?”
2* Bạn có muốn khôi phục Hiến pháp 1992 và Crưm vẫn là một phần lãnh thổ của Ukraine?”.

Và kết quả là “tuyệt đại đa số” nhân dân Việt Nam ủng hộ, đồng ý với bản DTHP do Đảng và nhà nước đưa ra.
Và kết quả là 96% số người đồng ý sáp nhập lãnh thổ Crưm vào Nga.
Và điều đó cũng có nghĩa là một tương lai đang hiện dần ra trước mắt: Crưm hôm nay, Việt Nam ngày mai.
Hà Nội, ngày 17/3/2014.
Ngày chiến thắng Trung Quốc xâm lược trên biên giới Phía Bắc
J.B Nguyễn Hữu Vinh
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA

Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

Tại sao Quốc Ca VNCH lại là một bài hát của một Đảng viên Cộng Sản?

Tại sao Quốc Ca VNCH lại là một bài hát của một Đảng viên Cộng Sản?






Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước

Đọc báo mạng, chúng ta thường bắt gặp một số phản hồi từ các độc giả trẻ trong nước thắc mắc tại sao Việt Nam Cộng Hòa và các cộng đồng người Việt Quốc gia hải ngoại lại lấy một bài hát của Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, một Đảng viên Cộng Sản, để làm bài Quốc ca ?

Để góp phần giải tỏa phần nào thắc mắc của các bạn trẻ trong nước, trước hết, nên tìm về lai lịch khá đặc biệt của bài hát danh tiếng này.

Bối cảnh

Nửa đầu Thế kỉ 20, cả Đông Dương thuộc Pháp (Việt-Miên-Lào) chỉ có một Đại học mang tên Đại Học Đông Dương (Université de L’Indochine) tại Hà Nội. Hồi những năm 1940, có khoảng trên 800 sinh viên theo học ở đây, bao gồm phân nửa là sinh viên Việt Nam, còn lại là các sinh viên Miên, Lào, Pháp và có cả một ít sinh viên Tầu và vài nước Đông Nam Á nữa.

Thời đó, chỉ có con nhà khá giả mới có tiền học lên Đại học, nhất là phải đi học xa nhà. Nói chung, hầu hết các sinh viên này chỉ lo “giật” lấy mảnh bằng để sau này có địa vị, có tiền bạc theo nguyện vọng của cha mẹ và gia đình họ.

Tuy nhiên, vẫn có một số sinh viên biết đặt dân tộc và đất nước lên trên những lợi lộc vật chất và công danh, sự nghiệp bản thân. Do đã lĩnh hội được tư tưởng khai phóng và tinh thần cách mạng Pháp, họ hiểu biết về các quyền lợi căn bản của người dân, như các quyền bình đẳng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do đi lại… và hiểu như thế nào là chế độ thực dân, là áp bức bóc lột, là độc lập, tự do, dân chủ… cho nên họ đã đem những kiến thức mới mẻ ấy để nâng nhiệt tình yêu nước của chính mình lên một bước trưởng thành mới; sau đó, họ dùng báo chí, ca, kịch để khơi dậy lòng ái quốc và thúc giục đồng bào đứng lên chống lại thực dân Pháp, giành lại độc lập cho nước nhà.

Một điều khá lí thú là những sinh viên hoạt động văn hóa, văn nghệ hăng say và đều đặn nhất trong thời điểm ấy là nhóm sinh viên từ Miền Nam ra học tại Hà Nội, như Lưu Hữu Phước, Nguyễn Tôn Hoàn, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Văn Khê, Phan Thanh Hòa, Đặng Ngọc Tốt, Nguyễn Thành Nguyên, Nguyễn Tú Vinh, Nguyễn Văn Thiêm, Hồ Văn Huê, Nguyễn Mỹ Ca, Phan Thị Bình, Nguyễn Thị Thiều…

Xuất sắc nhất trong số các sinh viên hoạt động văn nghệ thời đó là Sinh viên Lưu Hữu Phước. Một mình Sinh viên Lưu Hữu Phước đã sáng tác ra nhiều bài hát ái quốc vượt thời gian, như Tiếng Gọi Sinh Viên, Người Xưa Đâu Tá, Bạch Đằng Giang (lời của Mai Văn Bộ), Ải Chi Lăng (lời của Mai Văn Bộ), Hội Nghị Diên Hồng, Hát Giang Trường Hận (Hồn Tử Sĩ), Xếp Bút Nghiên …

Đây là những bài hát có tính cách lịch sử, đã làm bừng sống dậy tình yêu quê hương đất nước.

Bài Sinh Viên Hành Khúc

Bài Sinh Viên Hành Khúc (La Marche des Étudiants) là bài hát có lịch sử rất đặc biệt. Bài được sáng tác năm 1939, nhạc của Lưu Hữu Phước, lời tiếng Pháp của Lưu Hữu Phước và Mai Văn Bộ và được chọn là bài hát của Câu Lạc Bộ Học Sinh Petrus Ký (chưa tìm thấy lời tiếng Pháp đầu tiên này).

Từ khi ra đời, phần nhạc của bài hát không thay đổi, nhưng phần lời sẽ lần lượt được sửa chữa bởi tác giả, bởi các bạn sinh viên và sau này còn được sửa chữa coi như mới hẳn theo mục tiêu và chính kiến khác nhau của các tập thể chọn lựa bài hát này. Bài hát cũng sẽ mang các tên khác nhau: Sinh Viên Hành Khúc, Tiếng Gọi Sinh Viên, Thanh Niên Hành Khúc, Tiếng Gọi Thanh Niên, Quốc Dân Hành Khúc, Tiếng Gọi Công Dân.

Trước hết, theo Ts. Trần Quang Hải và Báo Chuông Việt thì Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã đặt lời tiếng Việt đầu tiên cho bài hát trước 1940, hồi còn là học sinh ở Sài Gòn với câu mở đầu: “Này anh em ơi ! Chúng ta kết đoàn hùng tráng. Đồng lòng cùng nhau, ta đi kiếm nguồn tươi sáng…“. Khi ra học ở Đại Học Đông Dương, Hà Nội, khoảng 1940 – 1941, ông lại sửa chữa đôi chút với lời mới như sau: “Nào anh em ơi ! Tiến lên đến ngày giải phóng. Đồng lòng cùng nhau, ta đi sá gì thân sống… ” và đặt tên cho bài hát là “Sanh Viên Hành Khúc” (Nguyễn Vĩnh Tráng. Lời mới cho bài hát “Tiếng gọi thanh niên” dẫn theo DT Pho Rum của Đặc Trưng, năm 2000, với tài liệu lấy ở “Âm Nhạc Việt Nam ” của Trần Quang Hải, 1989, và Báo Chuông Việt 1966. Chimviet,free.fr.).

Từ chỗ ít người biết đến, bài hát đã được một nhóm sinh viên đem ra hát công khai trong những buổi đi cắm trại hoặc đi viếng những địa danh lịch sử. Và vì phần lời bằng tiếng Việt lúc đầu còn “thô kệch”, lại bị Sở Mật Thám Pháp làm khó dễ do nội dung thôi thúc sinh viên đứng lên đấu tranh giải phóng đất nước, cho nên các bạn sinh viên đã phải sửa lại lời cho trôi chảy hơn cũng như phải “đấu tranh” với cơ quan kiểm duyệt để bài hát trở thành hợp pháp, và sau đó được Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương (Association Générale des Étudiants Indochinois, viết tắt A.G.E.I.) chọn làm bài hát chính thức với danh xưng là “Sinh Viên Hành Khúc” hay “Tiếng Gọi Sinh Viện”, mở đầu bằng: “Nầy Sinh Viên ơi ! Đứng lên đáp lời sông núi. Đồng lòng cùng đi, đi đi mở đường khai lối… “.

Việc các sinh viên thuộc Tổng Hội Sinh Viên phân công nhau soạn ra phần lời mới cho bài Sinh Viên Hành Khúc được Gs. Nguyễn Ngọc Huy thuật lại với khá nhiều chi tiết. Theo ông, chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942, Tổng Hội Sinh Viên tổ chức tại Đại Giảng Đường của Viện Đại Học một buổi ca hát để lấy tiền giúp các bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện được dùng làm nơi thực tập cho các sinh viên Khoa Y Dược. Nhân dịp này, Tổng Hội Sinh Viên muốn tung ra một bài hát đặc biệt để làm bài hát chính thức của Tổng Hội. Trưởng Ban Âm Nhạc của Tổng Hội lúc đó là Sv. Nguyễn Tôn Hoàn nhận thấy nhạc điệu bài La Marche des Étudiants của Sv. Lưu Hữu Phước “có tánh cách khích động tinh thần tranh đấu hơn hết” nên đã chọn để làm phần nhạc cho bài hát chính thức của Tổng Hội Sinh Viên, lấy tên là Sinh Viên Hành Khúc và giao cho một Ủy ban soạn phần lời cho bản nhạc này. Ủy Ban gồm có các Sinh viên Đặng Ngọc Tốt, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Thành Nguyên, Phan Thanh Hòa, Hoàng Xuân Nhị. (Gs. Nguyễn Ngọc Huy. Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam. TTXVA. Xem thêm bài Ký Ức Về Lưu Hữu Phước, Trần Văn Khê và Tổng hội Sinh viên Việt Nam của Ls. Lâm Lễ Trinh. Vietnam Weekly News, Số 952, 27.7.2007).

Sinh viên Hành khúc

I.
Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi!
Đồng lòng cùng đi, đi, mở đường khai lối
Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên,
Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn!
Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
Đừng tiếc máu nóng, tài xin ráng!
Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta,
Dầu muôn chông gai vững lòng chi sá
Đường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương,
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường
Điệp khúc:
Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
Sinh viên ơi! Ta thề đem hết lòng!
Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống!
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
II.
Này sinh viên ơi! Dấu xưa vết còn chưa xoá!
Hùng cường trời Nam, ghi trên bảng vàng bia đá!
Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam tiến luôn,
Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn
Hồ Tây tranh phong oai son phấn,
Lừng tiếng Sát Thát Trần Quốc Tuấn
Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,
Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám
Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên,
Mong đến ngày vẻ vang, ta thắp hương nguyền
(Điệp khúc)
III.
Này sinh viên ơi! Muốn đi đến ngày tươi sáng,
Hành trình còn xa, chúng ta phải cùng nhau gắng!
Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,
Ngày nay ta cũng đem lòng son cho giống dòng
Là sinh viên vun cây văn hoá,
Từ trước sẵn có nhiều hoa lá
Đời mới kiến thiết đáp lòng những ai
Hằng mong ta ra vững cầm tay lái
Bền chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
(Điệp khúc)

Phần lời tiếng Việt chỉ thích hợp với các sinh viên Việt Nam, do đó, để toàn thể sinh viên Đại học Đông Đương, gồm cả Pháp, Miên, Lào, có thể hát chung một bài hát, Ủy ban soạn lời đã viết thêm phần lời bằng tiếng Pháp và lấy lại tên cũ là La Marche des Étudiants.

La Marche des ÉtudiantsÉtudiants! Du sol l’appel tenace
Pressant et fort, retentit dans l’espace.
Des côtes d’Annam aux ruines d’Angkor,
À travers les monts, du sud jusqu’au nord,
Une voix monte ravie:
Servir la chère Patrie!
Toujours sans reproche et sans peur
Pour rendre l’avenir meilleur.
La joie, la ferveur, la jeunesse
Sont pleines de fermes promesses.
Điệp khúc:
Te servir, chère Indochine,
Avec cœur et discipline,
C’est notre but, c’est notre loi
Et rien n’ébranle notre foi!

Sau buổi trình diễn ca nhạc chiều ngày 15.3.1942 thành công mĩ mãn, bài Sinh Viên Hành Khúc được công nhận là bài hát chính thức của Tổng Hội Sinh Viên Đại Học Đông Dương. Từ đó, các sinh viên trong Ban Âm Nhạc tiếp tục phổ biến bài hát này cho công chúng Hà Thành trong những buổi trình diễn tại Rạp Olympia, qua tiếng hát xuất sắc của hai Sinh viên Phan Thị Bình và Nguyễn Thị Thiều. Hai sinh viên này cũng từ Miền Nam ra Hà Nội học Ngành Nữ Hộ Sinh (École des Sage-femmes) tại Bệnh viện René Robin.

Nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương năm 1942, bài Sinh Viên Hành Khúc lại được các sinh viên Đại Học Đông Dương ca lên hùng tráng ngay dưới chân núi Nghĩa Lĩnh (Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ), nơi tọa lạc Đền Hùng.

Sau Hà Nội, các sinh viên đã đưa bài Sinh Viên Hành Khúc trở lại Miền Nam để trình diễn tại Nhà Hát Lớn Sài Gòn và được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt.

Sau buổi trình diễn ca nhạc tại Đại Giảng Đường Trường Đại học ngày 15.3.1942, mùa hè năm đó, Tổng Hội Sinh Viên lại tổ chức lễ mãn khóa cho các sinh viên tốt nghiệp tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, có Toàn Quyền Đông Dương Decoux (Le Gouverneur Général de l’Indochine) và nhiều viên chức người Pháp đến dự. Lễ khai mạc bắt đầu, tất cả mọi người đứng lên nghiêm chỉnh, Ban Nhạc Hải Quân Pháp (Orchestre de la Marine) trổi Bài Quốc Ca Pháp La Marseillaise. Tiếp ngay sau đó, ban nhạc cử Bài La Marche des Étudiants. Nhạc tấu hùng tráng, lôi cuốn, hớp hồn, khiến Toàn Quyền Pháp và toàn thể cử tọa vẫn đứng nghiêm như đang chào Quốc Kì của một Quốc gia. Nghi lễ khai mạc trang trọng chấm dứt, chương trình văn nghệ mới bắt đầu.

Bs. Nguyễn Lưu Viên, cựu sinh viên Đại Học Đông Dương, cũng kể về một buổi lễ diễn ra tương tự vào ngày 03.3.1945, chỉ có 6 ngày trước khi chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam bị quân đội Nhật đảo chính ngày 09.3.1945 (Bs. Nguyễn Lưu Viên. Những Kỷ Niệm Với Bài Quốc Ca Của VNCH. Tập San Y Sĩ Tháng 4.2008).

Đến năm 1945, tổ chức Thanh Niên Tiền Phong ra đời ở Miền Nam, họ cũng chọn bài này làm bài hát chính thức của tổ chức và đổi tên là Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên.

Khi bài hát mang tên Thanh Niên Hành Khúc thì thay 2 chữ “sinh viên” bằng 2 chữ “thanh niên” mà thôi.

Sau khi Vua Bảo Đại thoái vị, ngày 30.8.1945, Hồ Chí Minh cho đưa Cựu Hoàng ra Hà Nội và phong cho ông chức cố vấn. Nhưng đến ngày 16.3.1946, Ông Hồ “cho” Cựu Hoàng tháp tùng phái đoàn Nghiêm Kế Tổ đi du lịch Nam Kinh, rồi ông “khuyên” Cựu Hoàng nên ở lại Tầu. Vì thế, Cựu Hoàng mới đi Côn Minh rồi tới Hong Kong. Năm 1947, Pháp bắt đầu muốn dùng con bài Bảo Đại và nhiều buổi tiếp xúc, nhiều cuộc vận động chính trị diễn ra bận rộn suốt năm 1947. Trong một cuộc hội nghị tại Hồng Kông do Cựu hoàng Bảo Đại triệu tập, có sự tham dự của một số nhân sĩ và đại diện các tôn giáo, các đảng phái, Bs. Nguyễn Tôn Hoàn đã đề nghị hội nghị lấy bài Thanh Niên Hành Khúc của Ns. Lưu Hữu Phước làm bài Quốc Ca của Quốc Gia Việt Nam và đổi tên thành Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân. Hội nghị chấp thuận. Do đó, khi Chính phủ Nguyễn Văn Xuân ra đời tại Sài Gòn vào ngày 02.6.1948 thì bài Tiếng Gọi Công Dân nghiễm nhiên trở thành bài Quốc Ca.

Đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Quốc Hội Lập Hiến Việt Nam Cộng Hòa khai mạc vào tháng 3 năm 1956, một trong những nhiệm vụ của Quốc Hội Lập Hiến là chọn Quốc Kì và Quốc Ca. Một số nhạc sĩ đã tham dự cuộc thi tuyển Quốc Ca, như Phạm Duy với bài Chào Mừng Việt Nam, Hùng Lân với 2 bài Nhân Dân Cách Mạng Việt Nam và Việt Nam Minh Châu Trời Đông, Ngô Duy Linh với bài Một Trời Sao, Ngọc Bích và Thanh Nam với bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống (xin xem Biển Nhớ. Quốc Ca VNCH ra đời như thế nào. Dactrung.com).

Mặc dù bài Minh Châu Trời Đông của Nhạc sĩ Hùng Lân được coi là sáng giá hơn và đã từng được Quốc Dân Đảng dùng làm Đảng Ca từ năm 1945, nhưng cuối cùng Quốc Hội Lập Hiến lại chọn bài Quốc Ca mà Chính phủ Nguyễn Văn Xuân (và cả Chính phủ Nguyễn Văn Tâm) đã chọn trước đó, rồi ra lệnh cho nhân viên Đài Phát Thanh Sài Gòn giữ nguyên phần nhạc, nhưng phải sửa lại lời ca cho phù hợp với giai đoạn mới và vận hội mới của đất nước, cũng lấy tên là Tiếng Gọi Công Dân.

Quốc ca Việt Nam Cộng hòa: Tiếng gọi công dân




Này Công Dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống.
Vì tương lai Quốc Dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dù cho phơi thây trên gươm giáo,
Thù nước, lấy máu đào đem báo.
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Người Công Dân luôn vững bền tâm trí.
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
Công Dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!
Công Dân ơi! Mau làm cho cõi bờ
Thoát cơn tàn phá, vẻ vang nòi giống
Xứng danh nghìn năm giòng giống Lạc Hồng!




Đó là bài Quốc Ca của cả hai Nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.

Ngày 30.4.1975, Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, người ta lấy lại tên cũ cũng như phần lời của bài Tiếng Gọi Thanh Niên như thời Thanh Niên Tiền Phong 1945.

Tại sao Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa lại là một bài hát của Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, một Đảng viên Cộng Sản?

Chẳng riêng gì giới trẻ ngày nay, mà cả những người dân Miền Bắc, nhất là các Đảng viên Cộng Sản đều không thể hiểu nổi, tại sao Miền Nam tự do có thiếu gì nhạc sĩ tài ba, thiếu gì bài hát hay với đầy đủ ý nghĩa, mà lại lấy ngay một bài hát của anh Cộng sản Lưu Hữu Phước để làm Quốc ca?

Chính Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, từ năm 1949, đã viết thư kịch liệt phản đối mạnh mẽ về việc này và sau đó, trong thời chiến tranh Nam Bắc, từ Hà Nội, Ns. Lưu Hữu Phước từng lên Đài Tiếng nói Việt Nam (Hà Nội) liên tục bác bỏ, giễu cợt và cả mắng nhiếc về việc bài hát Sinh Viên Hành Khúc của ông “vẫn cứ bị người bên kia chiến tuyến sử dụng vào một mục đích khác!”.

Thiển nghĩ, có thể luận giải vấn nạn này như sau:

Một:

Lí do đầu tiên khiến cho bài Sinh Viên Hành Khúc (Tiếng Gọi Sinh Viên, Thanh Niên Hành Khúc, Tiếng Gọi Thanh Niên) của Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước được Quốc Hội Lập Hiến VNCH chọn làm bài Quốc ca chính là vì giá trị nổi bật của bài hát đó.

Những ai đã biết bài Quốc ca Pháp, La Marseillaise, sẽ thấy bài này mang hơi hướng của bài Quốc Ca Pháp. Điều đó là tự nhiên, bởi vì, thời đó, người Pháp đã ở nước ta xấp xỉ 80 năm, ảnh hưởng văn minh, văn hóa Pháp phổ biến khắp nơi, nhất là đối với giới trẻ theo Tây học như Lưu Hữu Phước và các bạn đồng trang lứa của ông. Bài La Marseillaise được coi là mẫu mực của loại “Hành Khúc Âu Châu”, là bài hát đầu tiên trong thể loại này ở Âu châu. Vì thế, cũng như bài La Marseillaise, nhạc điệu bài Sinh Viên Hành Khúc sáng tác theo thể loại hành khúc mạnh mẽ, dồn dập; còn lời thì réo gọi, thôi thúc, nhất là Điệp khúc uy lực như như một quân lệnh thét gọi tiến lên, hiến thân diệt thù, cứu nước.

Hai:

Bất cứ tác phẩm văn nghệ hoặc công trình nghiên cứu nào đã công khai xuất bản đều nhắm vào sự hưởng dụng của mọi người. Như thế, mặc nhiên tác phẩm ấy thuộc về quần chúng và quần chúng có quyền xử dụng, miễn là không tìm cách kinh doanh kiếm lợi một cách trái phép hoặc chủ ý đạo văn, vi phạm tác quyền của tác giả. Từ đó suy luận, Quốc Hội Lập Hiến VNCH chọn bài nhạc của Ns. Lưu Hữu Phước để làm Quốc ca là một vinh dự lớn cho Nhạc sĩ, bởi vì bài hát của ông đã được xử dụng nhằm mục đích chung cao cả, tốt đẹp, thúc giục lòng yêu nước, yêu đồng bào một cách vô vị lợi và luôn luôn nói rõ Ns. Lưu Hữu Phước là tác giả chứ không phải là bất cứ ai khác.

Về luận giải này đã có 2 tiền lệ nổi tiếng, một tại Việt Nam, một tại Pháp:

Tiền lệ tại Việt Nam: Tác giả Xuân Ba viết trên mạng kể về một kỉ niệm “hằn trong tâm trí” với Nhạc sĩ Văn Cao vào năm 1991 như sau: “Cũng chợt nhớ lần hầu chuyện trưa đó, khi chúng tôi gạn rằng, về nhạc và lời của Tiến Quân Ca (Quốc ca của Cộng Sản VN) nếu giờ cho biên tập lại, nhạc sĩ sẽ thêm bớt ở đoạn nào? Ông cười, lắc đầu: “Ngay trong cái đêm tình cờ lần đầu được nghe Tiến Quân Ca trong một ngõ vắng, tôi có nhận ra được vài chỗ nhịp điệu còn chưa hoàn chỉnh nhưng bài hát đã in ra rồi, bài hát đã phổ biến và không còn là của riêng tôi nữa…” (Xuân Ba. Sửa Lời Quốc Ca. tienphong.vn).

Tiền lệ tại Pháp: Trong bài Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam, Gs. Nguyễn Ngọc Huy thuật lại lai lịch bài La Marseillaise, tức là bài Quốc ca của nước Pháp. Tác giả bài Quốc ca nước Pháp là viên sĩ quan bảo hoàng Rouget de Lisle. Ông sáng tác bài này vào năm 1792 dưới thời Vua Louis XVI. Năm sau, 1793, nhà vua bị Cách mạng Pháp xử tử và Rouget de Lisle cũng bị bắt vì tội theo phe bảo hoàng và cũng đã bị lên án tử hình. May mắn có Ông Lazare Carnot là Ủy viên Quốc phòng của Hội Đồng Cách Mạng muốn cứu mạng Rouget, vì cả hai cùng xuất thân từ một binh chủng. Ông Lazarre đề nghị Rouget tuyên thệ trung thành với Cách Mạng, nhưng Rouget cự tuyệt, thà chết chứ dứt khoát không phủ nhận lí tưởng bảo hoàng của mình. Cuối cùng Rouget de Lisle thoát chết chỉ vì Chính phủ Cách Mạng của tay đại khủng bố Robespierre bị lật đổ trước khi bản án tử hình Rouget de Lisle kịp thi hành. Sau năm 1793 ấy, Rouget de Lisle tiếp tục chống Cách Mạng, nhưng chính quyền Cách Mạng Pháp vẫn dùng bài La Marseillaise của Rouget de Lisle và đến năm 1795 thì chính thức quyết định lấy bài này làm bài Quốc ca của nước Pháp.

Ba:

Người Cộng sản chủ trương điều tra lí lịch tam đại triệt để, đồng thời trù ếm đối thủ tới đời con đời cháu. Trái lại, người Quốc gia không vơ đũa cả nắm, công tội phân minh.

Thơ tiền chiến của Thế Lữ vẫn được giảng dậy và lưu truyền ở Miền Nam trước 1975 cùng với những tập Điêu Tàn (1937) của Chế Lan Viên; Thơ Thơ (1938) của Xuân Diệu; Tiếng Thu (1939) của Lưu Trọng Lư; Lửa Thiêng (1940) của Huy Cận; Cô Hái Mơ (1939), Chân Quê (1940) và Lỡ Bước Sang Ngang (1940) của Nguyễn Bính…

Các nhà văn ở lại Miền Bắc có tác phẩm xuất bản thời tiền chiến vẫn được dân chúng Miền Nam tự do dành cho một chỗ đứng xứng đáng trên văn đàn, như Nguyên Hồng với Bỉ Vỏ (1937); Nam Cao với Chí Phèo (1941); Tô Hoài với Dế Mèn Phiêu Lưu Kí (1941) và O Chuột (1942) hay Nguyễn Tuân với Vang Bóng Một Thời (1940) và Chiếc Lư Đồng Mắt Cua (1941)…

Riêng về loại nhạc tiền chiến của các tác giả ở lại Miền Bắc lại càng được dân chúng Miền Nam yêu mến đặc biệt, như Văn Cao với Buồn Tàn Thu (1939), Thiên Thai (1941), Bến Xuân (1942), Trương Chi (1943); Hoàng Qúy với Cô Láng Giềng (1942-43); rồi Tô Vũ với Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa (1947); Nguyễn Văn Tý với Dư Âm hoặc Canh Thân với Cô Hàng Cà Phê, Khúc Ca Mùa Hè, Anh Còn Cây Đàn…

Một trong những lí do chính khiến các tác phẩm tiền chiến của các tác giả trên được dân Miền Nam tự do trân trọng và thưởng thức là vì khi sáng tác các tác phẩm trên đây, tất cả các tác giả ấy chưa biết Đảng, chưa theo Đảng, chưa trở thành Đảng viên Đảng Cộng Sản. Và vì thế các tác phẩm ấy không có tính Đảng, không nhằm phục vụ Đảng. Lúc đó, các tác giả được tự do sáng tác theo cảm hứng tự nhiên, trung thực và đầy tính nhân bản.

Một khi các tác giả ấy đi vào tổ chức Đảng và bắt đầu bị chỉ đạo sáng tác để phục vụ chính trị, phục vụ tuyên truyền, sáng tác “để chào mừng”…, thì tác phẩm không còn tính khai phóng, không còn khả năng làm tròn sứ mệnh soi đường của một nghệ sĩ chân chính. Tất cả mọi sinh hoạt văn học nghệ thuật đều nằm trong tay Đảng theo kiểu “bảy trăm tờ báo trên toàn quốc chỉ có một Ban Biên Tập” như hiện nay. Dân Miền Nam tự do rất bén nhậy. Từ khi các tác giả tiền chiến sáng tác theo lệnh Đảng, dân Miền Nam không thèm biết tới những tác phẩm “văn nghệ” của các tác giả ấy nữa.

Trường hợp Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước cũng giống như vậy.

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước khi sáng tác những bài ca ái quốc, ông còn là một sinh viên yêu nước thuần túy, chưa theo Cộng sản. Do đó, những bài hát ấy chưa có tính Đảng.

Thật vậy, Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sinh năm 1921. Năm 1940, sau khi đậu Tú Tài tại Sài Gòn, ông ra Hà Nội học Đại học Đông Dương, ngành Y Dược. Vào thời điểm đó, Lưu Hữu Phước là một sinh viên trẻ mới 19 tuổi, có tài sáng tác các ca khúc, một thành viên trong nhóm sinh viên thuộc Đại Học Đông Dương Hà Nội đầy nhiệt tình yêu nước và tích cực trong các sinh hoạt văn hóa văn nghệ vào những năm đầu thập niên 1940.

Mãi mấy năm sau, khi Đảng Cộng Sản cướp được chính quyền, Lưu Hữu Phước mới tham gia Đảng Tân Dân Chủ cùng với một số sinh viên đồng trang lứa. Trong kế hoạch lôi kéo hàng ngũ sinh viên trẻ về với mình, Cộng Sản dùng chiến thuật tuyên truyền, mua chuộc, thúc ép và cả khủng bố. Điển hình là vào năm 1946, Việt Minh Cộng Sản đã cho người vào Đông Dương Học Xá để bắt cóc Sinh viên Phan Thanh Hòa, Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Sinh Viên, đem đi thủ tiêu. Lí do là Sv. Phan Thanh Hòa “công khai chống sứ giả của Hồ Chí Minh là hai anh em Phan Anh, Phan Mỹ đến dụ THSV nhập vào Mặt Trận Việt Minh. Hòa tuyên bố Tổng Hội đứng ngoài đảng phái” (Ls. Lâm Lễ Trinh. Bài đã dẫn). Chiến thuật vừa lôi kéo mềm mỏng vừa bạo lực, sắt máu của Việt Minh Cộng Sản đã khiến cho một số khá đông thành viên Đảng Tân Dân Chủ ngả theo họ, trong đó có Sinh viên Lưu Hữu Phước và một nhóm bạn sinh viên người Miền Nam khác. (Sinh viên Phan Thanh Hòa là anh của Sinh viên Phan Thị Bình và là hậu duệ Cụ Phan Thanh Giản. Sau này Sv. Phan Thị Bình kết hôn với Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn).

Về việc này, Gs. Nguyễn Ngọc Huy đã nhận xét: “Lưu Hữu Phước thuộc thành phần đảng viên Tân dân chủ bị lôi kéo vào Đảng CS. Anh ta không đủ khí phách để chống lại việc đó và bị loại ra khỏi trường chánh trị như Đặng Ngọc Tốt, cũng không đủ tinh thần sắt máu để được CSVN tin dùng như Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Bửu Kiếm. Mặt khác, anh ta không có một khả năng đặc biệt về chánh trị mà CSVN có thể khai thác được như Mai Văn Bộ. Trước sau, Lưu Hữu Phước chỉ là một nhạc sĩ. Do đó, CSVN đã dùng anh ta như một văn công, sản xuất nhạc theo lịnh Đảng và lên tiếng về các vấn đề khác những khi Đảng thấy cần. Nói tóm lại, Lưu Hữu Phước đã sáng tác bản nhạc Quốc dân hành khúc hay Tiếng gọi công dân lúc còn là một sinh viên có tinh thần quốc gia. Ngày nay, anh ta là một văn công của CSVN và mọi lời phát biểu của anh ta chỉ là do Đảng CSVN mớm cho” (Gs. Nguyễn Ngọc Huy. Bài đã dẫn).

Một số nhận xét

Ba luận giải trên đây cho thấy Quốc Hội Lập Hiến VNCH đã chọn bài Sinh Viên Hành Khúc của Sinh viên Lưu Hữu Phước để làm bài Quốc ca vì đó là một bài hát xuất sắc, đã được phổ biến rộng rãi, công khai và được dân chúng từ Bắc tới Nam đón nhận nhiệt liệt vì bài hát phản ánh tình yêu nước và ý chí chống giặc ngoại xâm của người dân Việt.

Xét về quan điểm chính trị, khi chọn bài này, Quốc Hội Lập Hiến VNCH đã phân biệt rõ ràng có 2 Lưu Hữu Phước, một Lưu Hữu Phước trước khi theo Đảng Cộng sản và một Lưu Hữu Phước sau khi theo Đảng.

Trước khi theo Đảng, Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước là một nhạc sĩ trẻ, yêu nước thuần túy, trong sáng và ông đã sáng tác ra những ca khúc ái quốc bằng cảm hứng tự phát trong tự do tuyệt đối.

Sau khi theo Đảng, ông phải sáng tác theo lệnh Đảng, nhằm mục đích tuyên truyền, không còn được tự do sáng tác như trước nữa. Ông trở thành một “văn công”, không còn là một nghệ sĩ nữa. Đến ngay cả việc ông lên Đài Phát Thanh Tiếng Nói Việt Nam (Hà Nội) để bác bỏ, giễu cợt và cả mắng nhiếc về việc bài hát Sinh Viên Hành Khúc của ông “vẫn cứ bị người bên kia chiến tuyến sử dụng vào một mục đích khác!” cũng không chắc do ông tự nguyện hay là do lệnh bắt phải làm như vậy. Bởi vì sau này người ta được biết cấp cao như Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng mà còn phải thú nhận “Đ.m. tao cũng sợ nó, mầy biểu tao còn dám nói cái gì?” (Nguyễn Văn Trấn. Viết Cho Mẹ Và Cho Quốc Hội. Bản in ở Tp. HCM. Trang 303), hoặc “lừng danh thiên hạ” như Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà vào năm 1983 còn bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ hạ nhục bằng cách bắt đi làm Chủ Nhiệm Ủy Ban Sinh Đẻ Có Kế Hoạch, huống chi cỡ Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước thì “sức mấy” mà dám chống lệnh Đảng.

Xin nêu một bằng chứng khác về thân phận “văn công” của Đảng viên Lê Hữu Phước: Trong bài Lịch Sử Quốc Kỳ và Quốc Ca VNCH do NĐL tổng hợp, đã trích lời của Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước nói về bài Sinh Viên Hành Khúc như sau: “Bài hát bí mật của chúng tôi được anh em sinh viên lấy làm bài hát công khai. Anh em làm lại lời ca, và sau nhiều lần sửa đi sửa lại và đấu tranh với Sở kiểm duyệt, phong trào sinh viên đã có bài hát của mình tức là bài Tiếng gọi sinh viên, khi phong trào lan rộng, bài hát được nhân dân tự động đổi là Tiếng gọi thanh niên” (Dẫn theo bài Lịch Sử Quốc Kỳ và Quốc Ca VNCH do NĐL tổng hợp. hoiquanphidung.com).

Chỉ có hơn ba hàng chữ mà Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã để lộ nhiều điều:

Một là dường như Nhạc sĩ sợ bóng sợ gió chi đó, cho nên ông không nhìn nhận bài Sinh Viên Hành Khúc đã được ông sáng tác năm 1939, hồi còn học Trung học Petrus Ký ở Sài Gòn với lời bằng tiếng Pháp của ông và bạn ông là Mai Văn Bộ.

Hai là ông không dám nói đúng tên Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương mà lại nói “phong trào sinh viên”, trong khi chính Tổng Hội Sinh Viên Đông Dương thời đó đã chọn bài hát của ông, sau khi đã sửa phần lời, để làm bài hát của Tổng Hội Sinh Viên và đem ra trình diễn nhiều lần trước các viên chức lớn Pháp, Việt và công chúng. Ông cũng không nhắc tới Phong trào Thanh Niên Tiền Phong là Phong trào đã dùng Bài Tiếng Gọi Sinh Viên làm bài ca chính thức vào năm 1945 với tên gọi là Tiếng Gọi Thanh Niên.

Ba là ông không dám nhắc tới tên những sinh viên đã góp công làm cho bài hát của ông được vang danh khắp nơi, như nhóm sinh viên đã viết lời tiếng Việt cũng như tiếng Pháp cho bài hát; rồi những người đã chọn, đã giới thiệu bài hát của ông, như Sinh viên Phan Thanh Hòa (Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Sinh Viên), Sv. Nguyễn Tôn Hoàn (Trưởng Ban Âm Nhạc của Tổng Hội), hay là hai Nữ sinh viên Nguyễn Thị Thiều (sau này là vợ của Bs. Nguyễn Tú Vinh) và Phan Thị Bình (sau này là phu nhân của Bs. Nguyễn Tôn Hoàn). Hai Chị Bình và Thiều là hai ca sĩ sinh viên đầu tiên hát xuất sắc bài Tiếng Gọi Sinh Viên trước công chúng tại Hà Nội.

Bốn là ông không đả động gì tới vinh dự lớn lao vì bài hát của ông đã được các chính phủ Quốc gia trọng vọng, giữ nguyên phần nhạc và viết lại phần lời ca cho thích hợp với tình hình mới, rồi lấy làm bài Quốc ca.

Tóm lại, ông phủ nhận tất cả những tổ chức, những nhân vật, những buổi lễ, những buổi trình diễn có dính dáng tới người Pháp hoặc là những người bên phía Quốc gia đã trọng vọng và làm vinh danh bài nhạc của ông.

Tuy nhận xét như thế, nhưng chúng ta cũng có chút hồ nghi. Hoặc giả, Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã nhớ hết, đã muốn nói tới tất cả những chi tiết kể trên, nhưng lời phát biểu của ông đã bị cơ quan kiểm duyệt của Đảng cắt xén mất đi hoặc sửa chữa tùy tiện những chi tiết “nhạy cảm”. Việc này rất có khả năng xẩy ra, vì trong chết độ Cộng Sản độc tài, mọi ấn phẩm văn hóa, văn nghệ, hồi kí… đều bị kiểm duyệt về chính trị hết sức gắt gao, nhất là những gì và những ai liên quan tới phía Quốc gia.

Một nhận xét khác, quyết định chọn bài Sinh Viên Hành Khúc của Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước của Quốc Hội Lập Hiến VNCH còn là một công nhận, một tán thưởng cao qúy dành cho lớp thanh niên, sinh viên Việt Nam yêu nước chân chính, mà Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước là đại diện thời ấy, thời mà Việt Minh Cộng Sản chưa cướp được chính quyền từ tay Chính phủ Trần Trọng Kim ngày 19.8.1945.

Sau hết, quyết định ấy, một trật, cũng phủ nhận cái gọi là cuộc Cách Mạng Tháng Tám như Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn thường rêu rao. Quả thực, Việt Minh Cộng Sản mới chỉ thành công trong việc cướp chính quyền chứ họ chưa bao giờ thành công trong một cuộc cách mạng đúng nghĩa. Bởi vì sau khi cướp được chính quyền, Đảng Cộng Sản và những người đi theo họ, trong đó có Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, đã không theo đuổi một cuộc cách mạng dân tộc mà lại tự nguyện làm chư hầu cho Liên Xô và Tầu Cộng, để bằng mọi giá, quyết dùng dân tộc Việt Nam để làm cuộc cách mạng vô sản. Đến nay thì rõ ràng cuộc cách mạng vô sản ở nước ta đã hoàn toàn thất bại mọi mặt, chỉ trừ chuyên chính vô sản, dối trá và bạo lực là còn nguyên như bản chất cố hữu của những con người Cộng Sản và họ hiện nguyên hình là một nhóm lợi ích độc quyền mà thôi.

Cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, văn minh, khai phóng chỉ thành công rực rỡ ở Miền Nam với thể chế Cộng Hòa trong một thời gian ngắn ngủi 20 năm, và đã phải tạm chấm dứt vào ngày 30.4.1975. Đến nay, cuộc cách mạng ấy còn ở trước mắt, nó nằm trong tay toàn dân, nhất là giới trí thức, những nhà tranh đấu dân chủ và ở trong tay thế hệ trẻ Việt Nam.

Tháng 11. 2013



Bạch Diện Thư Sinh